Thursday, May 3, 2012

Hills like white elephants + Vietnamese Translation

Hills Like White Elephants

The hills across the valley of the Ebro were long and white. On this side there was no shade and no trees and the station was between two lines of rails in the sun. Close against the side of the station there was the warm shadow of the building and a curtain, made of strings of bamboo beads, hung across the open door into the bar, to keep out flies. The American and the girl with him sat at a table in the shade, outside the building. It was very hot and the express from Barcelona would come in forty minutes. It stopped at this junction for two minutes and went on to Madrid.

“What should we drink?” the girl asked. She had taken off her hat and put it on the table.

"It's pretty hot," the man said. "Let's drink beer."

"Dos cervezas," the man said into the curtain.

"Big ones?" a woman asked from the doorway.

"Yes. Two big ones."

The woman brought two glasses of beer and two felt pads. She put the felt pads and the beer glasses on the table and looked at the man and the girl. The girl was looking off at the line of hills. They were white in the sun and country was brown and dry.

"They look like white elephants," she said.

"I've never seen one," the man drank his beer. "No, you wouldn't have."

"I might have," the man said. 'just because you say I wouldn't have doesn't prove anything."

The girl looked at the bead curtain. "They've painted something on it," she said." What does it say?”

"Anis del Toro. It's a drink."

"Could we try it?”

The man called "Listen" through the curtain. The woman came out from the bar.

"Four reales."

"We want two Anis del Toro."

"With water? "

"Do you want it with water?"

"I don't know," the girl said. "Is it good with water?”

"It's all right."

"You want them with water?" asked the woman.

"Yes, with water."

"It tastes like licorice," the girl said and put the glass down.

"That's the way with everything."

"Yes," said the girl. "Everything tastes of licorice. Especially all the things you've waited so long for, like absinthe."

"Oh, cut it out."

"You started it," the girl said. "I was being amused. I was having a fine time."

"Well, let's try and have a fine time."

"All right. I was trying. I said the mountains looked like white elephants. Wasn’t that bright?”

"That was bright."

"I wanted to try this new drink. That’s all we do, isn’t it – look at things and try new drinks?”

"I guess so."

The girl looked across at the hills.

"They're lovely hills," she said. "They don't really look like white elephants. I just meant the coloring of their skin through the trees."

"Should we have another drink?"

"All right."

The warm wind blew the bead curtain against the table.

"The beer's nice and cool," the man said.

"It's lovely," the girl said.

"It's really an awfully simple operation, Jig," the man said. "It's not really an operation at all."

The girl looked at the ground the table legs rested on.

"I know you wouldn't mind it, Jig. It's really not anything. It's just to let the air in."

The girl did not say anything.

"I'll go with you and I'll stay with you all the time. They just let the air in and then it's all perfectly natural."

"Then what will we do afterward?”

"We'll be fine afterward. Just like we were before."

"What makes you think so?”

"That's the only thing that bothers us. It's the only thing that's made us unhappy."

The girl looked at the bead curtain, put her hand out and took hold of two of the strings of beads.

"And you think then we'll be all right and be happy."

"I know we will. You don't have to be afraid. I've known lots of people that have done it."

"So have I," said the girl. "And afterward they were all so happy."

"Well," the man said, "if you don't want to you don't have to. I wouldn't have you do it if you didn't want to. But I know it's perfectly simple."

"And you really want to?”

"I think it's the best thing to do. But I don't want you to do it if you don't really want to."

"And if I do it you’ll be happy and things will be like they were and you’ll love me?”

"I love you now. You know I love you."

"I know. But if I do it, then it will be nice again if I say things are like white elephants, and you’ll like it?”

"I'll love it. I love it now but I just can't think about it. You know how I get when I worry."

"If I do it you don’t ever worry?”

"I won't worry about that because it's perfectly simple."

"Then I'll do it. Because I don't care about me."

"What do you mean?" "I don't care about me."

"Well, I care about you."

"Oh, yes. But I don't care about me. And I'll do it and then everything will be fine."

"I don't want you to do it if you feel that way."

The girl stood up and walked to the end of the station. Across, on the other side, were fields of grain and trees along the banks of the Ebro. Far away, beyond the river, were mountains. The shadow of a cloud moved across the field of grain and she saw the river through the trees.

"And we could have all this," she said. "And we could have everything and every day we make it more impossible."

"What did you say?"

"I said we could have everything."

"We can have everything."

"No, we can't."

"We can have the whole world."

"No, we can't." "We can go everywhere."

"No, we can't. It isn't ours any more."

"It's ours."

"No, it isn't. And once they take it away, you never get it back."

"But they haven't taken it away."

"We'll wait and see."

"Come on back in the shade," he said. "You mustn't feel that way."

"I don't feel any way," the girl said. "I just know things."

"I don't want you to do anything that you don't want to do "

"Nor that isn't good for me," she said. "I know. Could we have another beer?”

"All right. But you've got to realize "

"I realize," the girl said. "Can’t we maybe stop talking?”

They sat down at the table and the girl looked across at the hills on the dry side of the valley and the man looked at her and at the table.

"You've got to realize," he said, "that I don't want you to do it if you don't want to. I'm perfectly willing to go through with it if it means anything to you."

"Doesn’t it mean anything to you? We could get along."

"Of course it does. But I don't want anybody but you. I don't want any one else. And I know it's perfectly simple."

"Yes, you know it's perfectly simple." "It's all right for you to say that, but I do know it."

"Would you do something for me now?'

"I'd do anything for you.'

"Would you please please please please please please please Stop talking."

He did not say anything but looked at the bags against the wall of the station. There were labels on them from all the hotels where they had spent nights.

"But I don't want you to," he said, "I don't care anything about it."

"I'll scream," the girl said.

The woman came out through the curtains with two glasses of beer and put them down on the damp felt pads.

"The train comes in five minutes," she said.

”What did she say” asked the girl.

"That the train is coming in five minutes."

The girl smiled brightly at the woman, to thank her.

"I'd better take the bags over to the other side of the station," the man said. She smiled at him.

"All right. Then come back and we'll finish the beer."

He picked up the two heavy bags and carried them around the station to the other tracks. He looked up the tracks but could not see the train. Coming back, he walked through the barroom, where people waiting for the train were drinking. He drank an Anis at the bar and looked at the people. They were all waiting reasonably for the train. He went out through the bead curtain. She was sitting at the table and smiled at him.

"Do you feel better?" he asked.

"I feel fine," she said. "There's nothing wrong with me. I feel fine."

Ernest Hemingway (1899-1861)

Những ngọn đồi giống voi trắng

Những ngọn đồi chạy ngang thung lũng sông Ebro trông thật dài và trắng. Phía bên đây không có cây và bóng mát. Ga xe hỏa nằm dưới ánh mặt trời giữa hai tuyến đường sắt. Gần bên cạnh nhà ga có bóng ấm của một ngôi nhà với một bức màn, kết bằng những chuỗi hạt gỗ trúc, treo trước cánh cửa mở dẫn tới quầy rượu, để ngăn ruồi khỏi bay vào. Gã người Mỹ và cô gái đồng hành ngồi tại một chiếc bàn dưới bóng mát phía ngoài nhà. Trời rất nóng và chuyến xe tốc hành từ Barcelona sẽ đến trong bốn mươi phút. Xe ngừng lại đây hai phút rồi đi Madrid.

‘Mình uống gì đây?’ cô gái hỏi. Cô cởi nón ra đặt lên bàn.

‘Trời nóng quá’ gã đàn ông nói.

‘Mình uống bia đi.’

‘Dos cervezas,” gã đàn ông gọi vào bức màn cửa.

‘Bia lớn nghe?’ một người đàn bà hỏi từ sau cửa.

‘Ờ. Hai cái bia lớn.’

Người đàn bà mang ra hai ly bia và hai miếng lót ly bằng nỉ. Bà ta đặt hai tấm lót ly và bia lên bàn rồi nhìn vào gã đàn ông và cô gái. Cô gái đang quay mặt nhìn dãy đồi. Dưới ánh mặt trời, những ngọn đồi trông thật trắng còn đồng quê thì nâu và khô cằn.

‘Trông như những con voi trắng,’ cô nói.

‘Anh chưa bao giờ thấy con voi trắng nào,’ gã đàn ông uống ly bia của mình.

‘Không, anh làm sao thấy được.’

‘Biết đâu đấy,’ gã nói. ‘Chỉ vì em nói anh không thấy được không có nghĩa là em chứng minh được điều gì cả.’

Cô gái nhìn vào tấm màn trúc. ‘Họ sơn cái gì lên đó,’ cô nói. ‘Chữ viết gì vậy?’

‘Anis del Toro. Một loại rượu.’

‘Mình thử được không?’

Gã đàn ông gọi “Này” qua màn cửa. Người đàn bà từ sau quầy rượu bước ra.

‘Bốn reales.’ ‘Cho tụi tôi hai ly Anis del Toro.’

‘Có pha nước không?’

‘Em có muốn pha nước không?’

‘Em không biết,’ cô gái nói. ‘Pha nước có ngon không?’

‘Cũng được.’

‘Cô có muốn pha với nước không?’ người đàn bà hỏi.

‘Có, uống với nước.’

‘Cái gì mà vị giống như cam thảo vậy,’ cô gái nói rồi đặt ly xuống.

‘Cái gì cũng vậy hết đó.’

‘Đúng,’ cô gái nói. ‘Cái gì cũng có vị cam thảo. Nhất là những cái mình đã chờ thật lâu, như ngải đắng vậy.’

‘Thôi, đừng nói nhảm nữa.’

‘Tại anh nói trước,’ cô gái nói. ‘Em thấy tức cười. Em đang vui mà.’

‘Được, hãy cố vui đi.’

‘Rồi. Em đang cố đây. Em nói là dãy núi nhìn giống những con voi trắng. Sáng ghê phải không?’

‘Sáng thật.’

‘Em muốn uống thử loại rượu này. Mình chỉ có chừng đó chuyện – nhìn cái này cái nọ và thử rượu lạ, đúng không?'

‘Có lẽ vậy.’

Cô gái nhìn vào những ngọn đồi phía xa.

‘Những ngọn đồi này dễ thương ghê,’ cô nói. ‘Thật ra thì cũng chẳng giống voi trắng lắm. Ý em muốn nói màu da của chúng khi nhìn xuyên qua những rặng cây.’

‘Mình có nên gọi thêm rượu không?’

‘Dạ, gọi thêm đi.’

Ngọn gió ấm thổi dạt mành trúc vào bàn.

‘Bia mát uống được,’ gã đàn ông nói.

‘Hay ghê,’ cô gái nói.

‘Thật ra, đây chỉ là một vụ giải phẫu rất đơn giản, Jig ạ,’ gã đàn ông nói. ‘Mà thật ra nó cũng chẳng phải là giải phẫu nữa.’

Cô gái nhìn xuống mặt đất nơi chân bàn được đặt lên.

‘Anh biết em chẳng ngại chuyện này đâu, Jig. Thật ra nó chẳng có gì cả. Chỉ là cho hơi vào thôi.’

Cô gái chẳng nói gì cả.

‘Anh sẽ đi với em và ở với em suốt buổi. Họ chỉ cho hơi vào thôi, rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó.’

‘Vậy sau đó mình sẽ làm gì?’

‘Mọi chuyện sẽ êm đẹp. Mình sẽ giống như khi trước.’

‘Dựa vào đâu mà anh nghĩ vậy?’

‘Đó là chuyện duy nhất nó làm cho mình phải băn khoăn. Đó là chuyện duy nhất làm cho mình mất vui.’

Cô gái nhìn vào mành trúc, đưa tay ra nắm lấy hai chuỗi hạt.

‘Vậy anh nghĩ rằng mọi chuyện sẽ đâu ra đó và mình sẽ hạnh phúc.’

‘Anh biết mình sẽ hạnh phúc. Em không phải sợ gì cả. Anh đã biết rất nhiều người đã làm như vậy rồi.’

‘Em cũng vậy,’ cô gái nói. “Và sau đó ai cũng hạnh phúc ghê vậy.’

‘Thôi được,’ gã đàn ông nói, ‘nếu em không muốn thì em không phải làm. Anh không ép em phải làm nếu em không muốn. Nhưng anh biết chuyện này hoàn toàn đơn giản.’

‘Mà anh muốn vậy phải không?’

‘Anh nghĩ đó là cách tốt nhất. Nhưng em không phải làm nếu em không thực sự muốn.’

‘Và nếu em làm thì anh sẽ vui và mọi chuyện sẽ như cũ và anh sẽ yêu em?’

‘Anh vẫn yêu em. Em biết là anh yêu em.’

‘Em biết. Nhưng nếu em làm, mọi chuyện sẽ tốt như trước và anh sẽ thích nếu em nói cái này cái nọ giống voi trắng?’

‘Anh sẽ thích lắm. Bây giờ anh cũng thích nhưng anh không thể nghĩ đến nó được. Em biết anh ra sao lúc anh lo lắng mà.’

‘Nếu em làm thì anh sẽ không bao giờ phải lo lắng, phải không?’

‘Anh sẽ không lo vì chuyện này hoàn toàn đơn giản.’

‘Vậy thì em sẽ làm. Vì em chẳng ngại chuyện gì xảy ra cho mình cả.’

‘Em nói vậy có ý gì?’

‘Em chẳng ngại chuyện gì xảy ra cho em cả.’

‘Nhưng anh lo cho em.’

‘À, đúng. Nhưng em bất chấp chuyện gì xảy ra cho mình. Em cứ sẽ làm rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đó.’

‘Anh không muốn em làm nếu em nghĩ như thế.’

Cô gái đứng dậy rồi đi đến cuối sân ga. Phía bên kia thung lũng là những cánh đồng ngũ cốc và những rặng cây chạy dọc theo bờ sông Ebro. Xa xa, bên kia sông là những dãy núi. Bóng một cụm mây lớn đang trôi ngang cánh đồng. Cô nhìn thấy dòng sông qua những rặng cây.

‘Và lẽ ra mình có thể có đủ mọi thứ,’ cô nói. ‘Lẽ ra mình có thể có tất cả nhưng mỗi ngày mình lại làm cho điều đó không thể xảy ra được.’

‘Em vừa nói gì?’

‘Em nói lẽ ra mình có thể có đủ mọi thứ.’

‘Mình không thể có tất cả được.’

‘Không, mình không thể.’

‘Mình có thể có cả thế giới.’

‘Không, mình không thể.’

‘Mình có thể đi bất cứ đâu.’

‘Không, mình không thể. Thế giới không còn của mình nữa.’

‘Thế giới là của mình.’

‘Không, không phải. Và khi họ lấy nó đi, mình không lấy lại được nữa.’

‘Nhưng họ đâu đã lấy nó đi.’

‘Mình cứ chờ rồi sẽ thấy.’

‘Em hãy quay lại chỗ có bóng mát đi,’ gã nói. ‘Em không nên nghĩ thế.’

‘Em không nghĩ gì hết,’ cô gái nói. ‘Em chỉ biết nhiều điều thôi.’

‘Anh không muốn em làm bất cứ gì mà em không muốn –’

‘Hoặc không tốt cho em,’ cô nói. ‘Em biết. Mình gọi thêm bia được không?’

‘Thôi được. Nhưng em phải hiểu là –’

‘Em hiểu,’ cô gái nói. ‘Mình thôi không nói nữa được không?’

Họ ngồi vào bàn. Cô gái nhìn về phía những ngọn đồi bên vùng đất khô của thung lũng còn gã đàn ông thì nhìn vào cô và nhìn xuống bàn.

‘Em phải hiểu,’ gã nói, ‘là anh không muốn em làm chuyện gì nếu em không muốn. Anh sẵn sàng giữ nó nếu chuyện đó có ý nghĩa đối với em.’

‘Nó có ý nghĩa gì với anh không? Mình vẫn có thể vui vẻ được mà.’

‘Dĩ nhiên là có. Nhưng anh không muốn có bất cứ ai, ngoại trừ em. Anh không muốn có ai khác. Và anh biết chuyện đó hoàn toàn đơn giản.’

‘Đúng, anh biết chuyện đó hoàn toàn đơn giản.’

'Em nói vậy cũng chẳng sao, nhưng anh thật sự biết vậy.’

‘Anh có thể làm chuyện này cho em được không?’

‘Anh có thể làm cho em bất cứ chuyện gì.’

‘Anh làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn làm ơn thôi không nói nữa được không?’

Gã không nói gì cả nhưng nhìn vào những túi xách để nằm tựa vào tường ga. Trên đó có nhãn hiệu của những khách sạn họ đã ghé vào ngủ đêm.

‘Nhưng anh không muốn em làm,’ gã nói, ‘chuyện này đối với anh không là gì cả.’

‘Em sẽ hét lên đây,’ cô gái nói.

Người đàn bà với hai ly bia từ sau màn bước ra đặt bia lên những tấm lót ẩm. ‘Năm phút nữa xe hỏa sẽ đến,’ bà ta nói.

‘Bà ấy nói gì thế?’ cô gái hỏi.

‘Bà ấy nói là năm phút nữa xe hỏa sẽ đến.’

Cô gái cười thật tươi với người đàn bà để cám ơn bà ta.

‘Chắc anh phải đem hành lý qua phía bên kia sân ga,’ gã đàn ông nói. Cô mỉm cười với hắn.

'Được, anh đi đi. Xong anh quay lại và mình uống hết bia nhé.’

Gã nhấc hai cái túi nặng lên rồi xách chúng đi vòng sân ga để đến đường sắt bên kia. Gã nhìn theo đường sắt nhưng không thấy được xe hỏa. Gã quay về, đi xuyên qua phòng có quầy rượu, nơi khách đợi xe đang uống rượu. Gã uống một ly Anis ở quầy rượu rồi nhìn mọi người. Họ đang bình tĩnh ngồi chờ xe hỏa đến. Gã bước qua màn cửa. Cô đang ngồi ở bàn, mỉm cười với hắn.

‘Em có thấy đỡ hơn không?’ gã hỏi.

'Em thấy rất dễ chịu,’ cô nói. ‘Em không sao cả. Em thấy rất dễ chịu.’

Đỗ Quý Dân dịch




Tuesday, May 1, 2012

NƯỚC MẮM

Có lẽ tất cả những người Việt lớn lên ở Việt Nam đều biết đến nước mắm. Vì thế nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lấy nước mắm để làm biểu tượng cho Việt Nam, hoặc cho văn hóa hay phong tục Việt. Và cũng vì thế, có lẽ bạn đang nghĩ rằng bài viết này là một bài bình luận về văn hóa hoặc phong tục nước Việt. Không phải thế bạn ạ. Đây chỉ là một câu chuyện. Một câu chuyện có chút liên quan đến nước mắm. Câu chuyện này cũng liên quan đến một người đàn bà được hoặc bị người ta gán cho cái tên Nước Mắm, hoặc Mắm, nếu người ta lười, chỉ muốn dùng một chữ để cho tiện gọi tên.

Và tôi, người đang kể chuyện cho bạn nghe, có chút liên quan đến người đàn bà này.

Tôi xin được tự giới thiệu. Tôi là một luật sư đang hành nghề tại tiểu bang California, một trong những tiểu bang giàu nhất nước Mỹ. Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, đến năm 1975 thì tỵ nạn sang Mỹ. Mặc dù tôi là luật sư ở Mỹ, tôi vẫn thường tự hào là hiểu biết khá nhiều về Việt Nam, về ngôn ngữ Việt cũng như về văn hóa Việt. Có điều tôi đã sống quá lâu ở Mỹ, nên lối suy nghĩ của tôi, cách diễn đạt lối suy nghĩ đó, có thể khác với lối suy nghĩ và diễn đạt của người Việt chưa một lần rời quê hương. Nếu bạn thuộc thành phần đó, xin thứ lỗi cho tôi không kể được câu chuyện này cho bạn nghe theo lối kể của người Việt “thuần túy”. Mong bạn cố mở lòng ra để hiểu điều tôi nói, cũng như tôi đã cố gắng hết sức để chia sẻ câu chuyện này với bạn. Cứ coi như đây là chuyện người đồng hương nói cho người đồng hương nghe.

Đa số thân chủ của tôi là người Việt. Nói đúng hơn, họ là người gốc Việt, hiện sống ở Mỹ và đã có quốc tịch Mỹ. Mỗi người trong bọn họ có một câu chuyện riêng, mỗi câu chuyện là một niềm ẩn ức, dù kết cục của câu chuyện đó là niềm vui đến từ sự thành công ở nước người, hoặc một nỗi buồn đọng lại từ những thất bại, đau đớn họ đã phải trải qua.

Mắm (hoặc Nước Mắm) là một thân chủ của tôi. Tôi có nhiều cảm tình với nàng, nên những nhận xét của tôi về nàng có thể là những nhận xét hết sức chủ quan về một người mà tôi cảm mến. Tôi kể lại chuyện của nàng cho bạn nghe để mong bạn cho tôi một cái nhìn khách quan hơn về nàng. Email của tôi là nguoithuatchuyen@gmail.com. Bạn đọc xong bài viết này, xin liên lạc với tôi qua email và cho tôi biết những nhận xét của bạn về nàng. Xin cảm ơn bạn trước.



1.

Dạo ấy, tôi chỉ vừa hành nghề luật sư được vài năm. Tôi nhớ hôm ấy là thứ hai, ngày đầu tuần, tôi đang nhấm nháp ly cà phê buổi sáng thì điện thoại reo.

Giọng đàn bà qua điện thoại nghe rất nhỏ nhẹ. Hình như là giọng của người miền Nam.

Văn phòng luật sư có nhận làm ly dị không? Dạ, em đã ở Ca Li hơn mười năm rồi. Dạ không, em không muốn tranh cãi gì cả, chỉ muốn nhờ luật sư lo về thủ tục giấy tờ thôi. Xin luật sư cứ cho biết lệ phí là bao nhiêu, em sẽ đem tới đầy đủ. Tiền bạc đối với em không thành vấn đề. Luật sư cho em xin cái hẹn. Tên em là Jasmine Nguyen.

Người đàn bà có giọng nói miền Nam nhỏ nhẹ đã đến văn phòng tôi ngay chiều hôm ấy.

Giọng nói không bội phản dáng người. Nàng là một người đàn bà đẹp, pha lẫn nét lịch sự và quý phái. Nàng làm tôi bắt buộc phải nghiêm trang, chững chạc hơn thường ngày.

Nhưng tôi suýt để mất vẻ nghiêm trang của mình khi nàng bảo tôi gọi nàng là Nước Mắm, hoặc Mắm nếu tôi muốn. Luật sư đừng ngại, những người thân của em đều gọi em như vậy.

Mắm là tên thật của người đàn bà xinh đẹp, lịch sự kia ư? Nàng không có vẻ gì là muốn đùa giỡn với tôi cả. Tôi phải gọi nàng là cô Mắm, bà Mắm, hay cô Nước Mắm, bà Nước Mắm?

Không, tên thật của nàng không phải là Nước Mắm hoặc Mắm. Nàng tên thật là Lài. Nguyễn Thị Lài. Nàng đã cho tôi biết qua điện thoại tên Mỹ của nàng: Jasmine Nguyen. Nước Mắm chắc chỉ là cái tên tục bố mẹ nàng đặt ra để gọi nàng lúc còn bé, giống như những người nhà quê ngày xưa thường hay gọi con mình là thằng Cu, cái Hĩm. Nhưng thế thì tại sao nàng lại không dẹp cái tên kỳ quặc kia đi?

Không, không phải thế đâu luật sư. Mắm không phải là tên tục của em. Cái tên Mắm của em là một kỷ niệm, một kỷ niệm không bao giờ em quên được. Em bắt đầu có tên đó vào năm em mười sáu tuổi.

Mắm có lối nói chuyện giản dị, khiêm tốn so với dáng điệu quý phái của nàng. Bằng lối nói chuyện đó, nàng thuật cho tôi nghe câu chuyện của Nước Mắm.


2.

Nguyễn thị Lài sinh trưởng ở vùng biển. Lài là đứa con gái thứ ba trong gia đình. Bố Lài không thích con gái, chỉ thèm được một đứa con trai. Ông vẫn thường đay nghiến vợ về chuyện bà không có con trai và dọa là nếu bà đẻ thêm con gái, ông sẽ đem đứa bé đi cho đôi vợ chồng già ở cuối xóm nhận làm con nuôi, và sẽ lấy vợ hai để kiếm con trai. Khi Lài ra đời, bố nàng đã giữ lời. Lài trở thành con nuôi của ông bà Chín cuối xóm, bố nàng lấy thêm vợ hai và từ đó về sau tuyệt đối không ăn nằm với mẹ nàng. Bất quá tam, ông nói thế. Ông không thể để cho bà có cơ hội có đứa con gái thứ tư. Từ đó, bà sống như một chiếc bóng trong nhà. Còn bà vợ hai thì sinh ra cho ông hai đứa con trai nên ông cưng chiều hết mực.

Lài sống bình yên với bố mẹ nuôi được khoảng mười năm thì ông Chín mất. Một năm sau đó, bà Chín cũng từ giã cõi đời. Bố mẹ ruột của Lài bắt buộc phải nhận lại Lài về để nuôi trong gia đình.

Từ ngày Lài trở về sống với bố mẹ ruột, nàng bị mẹ đánh đòn thường xuyên. Má em đánh em giống như em là người thù vậy. Em làm gì hơi trật một chút là bị ăn đòn, mấy thằng em trai cùng cha khác mẹ với em thì thích lắm, mỗi lần em bị đòn là tụi nó cười miết thôi. Ba em thì không thèm nhìn tới em. Đối với ổng, em như một đứa người làm vậy.

Tuy bị ngược đãi, Lài vẫn được tiếp tục học thêm vài năm. Vì kinh tế khó khăn, mẹ nàng phải tìm cách kiếm thêm tiền cho gia đình. Bà dựng một cái sạp nhỏ trên lề đường ở trung tâm thành phố để bán những món hàng vặt như thuốc lá, nước ngọt, bánh kẹo cho khách bộ hành. Lài học chưa hết lớp mười thì phải cắt ngang để ra giúp mẹ bán hàng, vì sức khỏe của mẹ nàng đột nhiên sa sút, không rõ nguyên do. Hai cô chị lớn thì đã lấy chồng, dọn qua tỉnh khác, chẳng giúp gì được cho gia đình. Hai đứa em trai cùng cha khác mẹ thì còn nhỏ, chúng lại được nuông chiều, không ai dám đụng đến. Chỉ còn có Lài. Năm đó nàng mười lăm tuổi.

Lài không buồn vì phải nghỉ học. Trái lại, nàng cảm thấy thoải mái hơn vì bớt bị ăn đòn. Vì cần Lài phụ việc, mẹ nàng đối xử với nàng tốt hơn trước. Bà bớt chửi mắng nàng. Tuy nhiên, bà cũng chỉ nói chuyện với Lài khi có việc cần sai bảo. Hình như bà tránh nói chuyện với đứa con gái của mình.

Cơ thể của Lài phát triển sớm hơn cơ thể của những bạn gái đồng tuổi. Tính tình, cách cư xử của nàng cũng già dặn hơn. Trông nàng như một cô gái 18, 19 tuổi. Khách đi đường, đàn ông cũng như đàn bà, nếu đã để mắt đến sạp hàng của nàng, đều không khỏi thầm khen cô bán hàng xinh đẹp, khả ái. Nhờ thế, Lài bán hàng chạy gấp đôi mẹ. Dần dà, bà giao hẳn sạp hàng cho nàng trông coi để ở nhà dưỡng bệnh.


3.

Tạo hóa đố hồng nhan.

Hắn là một sĩ quan không quân đã từng đi học thêm khóa huấn luyện ở Mỹ. Hắn có cái nét hào hoa lọc lõi của Tây phương mà Lài không thấy ở đám con trai trong xóm. Hắn mua thuốc lá của nàng rồi mời nàng đi uống nước. Hắn mời nhiều lần, và rút cuộc nàng chấp thuận đi chơi với hắn. Hắn trở thành người tình đầu tiên của nàng. Nàng yêu hắn và không đủ can đảm khước từ đòi hỏi của hắn một đêm bố nàng đi đánh cá ngoài khơi, mẹ nàng than mệt đi ngủ sớm, còn bà hai của bố thì về quê thăm gia đình. Nàng không ngờ đã có thai với hắn vào cái đêm định mệnh đó. Và đó cũng là lần cuối mà nàng gặp hắn. Hắn bị thuyên chuyển qua đơn vị khác và rời thành phố miền biển vài ngày sau đó. Hắn đi không nói với nàng một câu giã từ, để lại cho nàng một vết thương lòng và một cái thai trong bụng.

Nàng không giấu được những trận nôn mửa vì thai nghén.

Nàng cũng không ngờ bị thằng em cùng cha khác mẹ bắt gặp nàng đi chơi với hắn. Nàng không ngờ nó nói cho mẹ nó nghe. Nàng không ngờ mẹ nó lại đem chuyện đó ra nói cho mẹ nàng nghe, bằng một giọng điệu mỉa mai chế nhạo.

Bị mẹ chất vấn, nàng đành nói thật cho mẹ biết. Ngượng với bà hai của chồng, mẹ nàng cho đứa con gái của mình một trận đòn nên thân. Rồi đến lượt bố nàng. Lần đầu tiên nàng được nếm cái khắc nghiệt của người cha. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng.

Trước sự chứng kiến của đám người tò mò trong xóm, người đàn ông lôi đứa con gái đã mấy tháng mang thai ra giữa đường, tát cho nàng sưng cả mặt rồi kéo căng tóc nàng ra để cắt. Chưa hết, người đàn ông kia còn lấy một hũ nước mắm đổ lên người đứa con gái rồi đuổi nàng ra khỏi nhà. Trước mặt mọi người, hắn tuyên bố từ con.

Đù má mày cái con điếm thúi. Mày không phải là con tao. Từ giờ tao với mày không còn cha con gì nữa. Mày ra khỏi nhà tao, mày đi chỗ khác mà chết đi, đừng để tao thấy mặt mày nữa.

Đám đông rồi cũng tan, khi tấn tuồng chấm dứt. Người con gái đáng thương đứng chơ vơ một mình giữa đường, mặt sưng vù, tóc ngắn chĩa lởm chởm, người ướt sũng nước mắm. Lúc đó, nàng chỉ muốn tan biến vào không khí, để không còn phải nhìn thấy ai nữa. Thì vừa vặn lúc Hoa xuất hiện. Lúc hai bàn tay của Hoa đặt lên vai nàng, dìu nàng đến giếng nước công cộng gần đấy, lúc Hoa múc nước gội đầu cho nàng, xối nước cho chất nước mắm bám trên người nàng trôi đi, lúc Hoa ân cần cởi chiếc áo ngoài của mình ra phủ lên người nàng, để cơ thể nàng khỏi bị lộ liễu dưới bộ y phục ướt sũng nước lẫn nước mắm, nàng chợt cảm thấy như người sắp chết đuối vừa vớ được tấm ván. Để nàng có một chút hy vọng. Cho ngày mai.

Cứ thế mà nàng lẽo đẽo theo chân của gã con trai kia về nhà.


4.

Hoa là con trai út của một gia đình thương gia có cửa tiệm lớn ở mặt đường cái. Thế giới của Hoa cách biệt hẳn thế giới của nàng. Gia đình Hoa giàu có, kẻ ăn người làm đầy rẫy, ai ai cũng chiều cậu Út. Mặc dù bố mẹ Hoa chẳng ưa gì Lài, vì chiều con, họ để cho nàng ở lại trong nhà, sống chung với đám người làm công cho gia đình.

Biết chuyện của nàng, họ đặt cho nàng một tên mới: con Nước Mắm, hay con Mắm, tùy theo hứng mà gọi. Nàng không phản đối. Hoa đối với nàng có cái ân. Nàng mang cái ân đó. Dù Hoa hay gia đình anh có gọi nàng bằng những chữ bẩn thỉu gì đi nữa, nàng cũng không màng. Nàng chấp nhận cái tên Nước Mắm. Nàng trân trọng nó và không muốn nhớ đến cái tên Lài ngày trước. Nguyễn Thị Lài đã chết. Giờ đây chỉ còn Nước Mắm. Chỉ còn Mắm.


5.

Vì vậy mà em muốn luật sư gọi em là Nước Mắm. Chắc luật sư đã hiểu tại sao.

Trong cuộc đời làm việc của tôi, tôi đã phỏng vấn nhiều thân chủ và biết cách lèo lái câu chuyện. Lần đó thì khác. Tôi chợt cảm thấy người đàn bà trước mặt mình mong manh như một màn sương, chỉ một câu nói sai của tôi cũng có thể làm cho nàng tan đi. Tôi cố chú tâm vào công việc để khỏi phải hình dung người con gái trong câu chuyện tôi vừa được nghe Mắm kể.

Chị với chồng chị lấy nhau vào ngày nào, tháng nào, năm nào? Hai ông bà đã sống riêng chưa? Nếu chưa, chị cứ coi như hôm nay là ngày hai vợ chồng chính thức ly thân. Chị có mấy con? Hai đứa tên gì? Chị cho tôi xin ngày sinh và số an sinh xã hội của tụi nó. Ông bà định chia giờ giấc giữ con như thế nào? Tài sản của hai ông bà gồm những gì? Xin chị liệt kê vào mẫu đơn này hộ tôi…

À, nãy giờ có chuyện quan trọng nhất mà tôi lại quên không hỏi. Xin chị cho biết chồng chị tên gì?

Tên chồng em là Hoa. Vương Kim Hoa. Tên Mỹ của ảnh là Harold Wong.

Hoa? Có phải cái anh Hoa đã đem chị về nhà không? Thế ra anh ấy là chồng của chị?


6.

Cũng như bao gã con trai khác, Hoa say mê sắc đẹp của Mắm. Hoa tận tình chăm sóc Mắm. Vì cảm cái ân của Hoa, Mắm để anh ăn nằm với nàng mặc dù nàng đang mang thai. Gia đình Hoa không ai biết, hoặc có biết mà cứ làm ngơ. Họ có tiền, có uy quyền, nên dù đứa con trai út trong nhà có làm gì sai trái, họ cũng có cách để giải quyết.

Nhưng họ không chấp nhận Mắm làm dâu trong gia đình.

Đứa con hoang, con đầu lòng của Mắm ra đời được năm tháng thì tình hình chiến sự trong nước biến đổi nghiêm trọng. Hết thành phố này đến thành phố khác ở miền Trung bị thất thủ. Gia đình Hoa dọn về Sài Gòn. Hoa phải tranh đấu dữ dội để mang theo được hai mẹ con của Mắm. Nhưng rồi tình thế Sài Gòn cũng trở nên nguy ngập, gia đình Hoa nhờ người quen ở tòa đại sứ Mỹ xin được chỗ trên chuyến bay di tản qua Phi Luật Tân vào ngày 25 tháng tư. Hoa có tranh đấu đến đâu đi nữa cũng không có cách nào xin cho mẹ con Mắm được đi theo. Mắm ngậm ngùi nhìn Hoa đi mà thấy mình như lại chết đi một lần nữa.

Lúc đó, Mắm vẫn chưa chính thức là vợ Hoa. Qua đến Mỹ được mấy năm, rồi sau đó gặp lại nhau được mấy năm nữa, Mắm mới trở thành vợ chính thức của Hoa.


7.

Căn nhà của chị hiện giờ trị giá bao nhiêu? Dạ, khoảng 800 ngàn. Chị còn thiếu nợ bao nhiêu? Dạ, khoảng 200 ngàn. Vậy là chị có khoảng 600 ngàn “equity” trong căn nhà đó. Vợ chồng chị mua căn nhà này vào lúc nào? Dạ em mua được một năm trước khi lập hôn thú. Ủa, vậy nhà đó do chị bỏ tiền ra mua hay sao? Dạ đúng. Tiền của riêng chị bỏ ra mua? Dạ. Nếu vậy nhà đó là tài sản riêng, “separate property” của chị, phần của anh Hoa trong căn nhà đó rất ít, tùy thuộc vào số tiền trả góp hàng tháng từ ngày hai vợ chồng lấy nhau…

Nhưng luật sư cứ giao nhà đó cho anh Hoa giữ. Luật sư cứ coi nhà đó như là nhà của ảnh.

Tôi đã hết sức ngăn cản Mắm về việc giao trọn căn nhà (của nàng) cho Hoa, nhưng nàng không nghe. Thấy tôi cứ mãi băn khoăn về chuyện này, nàng nói:

- Thưa luật sư, luật sư có nhớ em kể chuyện anh Hoa đưa em ra giếng nước gội rửa cho em, và khoác cho em chiếc áo ngoài không? Với em, cái áo đó có giá trị hơn bất cứ căn nhà nào. Nhờ cái áo đó em vẫn còn là người cho đến hôm nay. Anh Hoa rất thích căn nhà em mua, vậy thì căn nhà đó đúng là căn nhà của ảnh.

Lần đầu tiên tôi gọi nàng bằng tên Mắm là khi nàng chia tay với tôi chiều hôm ấy.

- Thôi cô Mắm về đi. Hẹn gặp lại cô Mắm tuần tới.

Hình như mắt nàng thoáng long lanh khi nghe tôi nói chữ “Mắm” đó.


8.

Tôi trở thành bạn của Mắm sau khi giúp nàng hoàn tất hồ sơ ly dị. Lúc quen nhau thân hơn, nàng kể tiếp cho tôi nghe về đời nàng sau khi gia đình Hoa rời Việt Nam, bỏ mình nàng ở lại với đứa con chưa đầy một tuổi.

Mắm đã mấy lần nảy ý định tự tử, nhưng khi nhìn lại con mình, nàng biết nàng không thể chết được. Nàng xoay sở đủ cách để nuôi con sống qua ngày.

Anh biết không, quen anh lâu giờ em mới dám kể. Em đã phải làm đủ mọi thứ chuyện, kể cả bán thân để kiếm tiền. Tủi nhục lắm anh ơi. Cũng may là về sau anh Hoa liên lạc được với em rồi gửi tiền về cho em vượt biển. Em đã tưởng mẹ con em chết ngoài biển rồi, không ngờ lại được tàu vớt đưa vào trại tỵ nạn ở “Indo”.

Mắm lập hôn thú giả với một người cùng trại đã được người thân bảo lãnh để sang Mỹ. Nàng phải trả cho người kia mấy lạng vàng nàng dành dụm được sau thời gian bươn chải ở Sài Gòn. Qua đến California, nàng “ly dị” người đó. Và nàng gặp lại Hoa.

Hoa nhất định bắt nàng phải đổi tên. Hoa dịch tên Lài của nàng thành Jasmine và bắt nàng sử dụng tên mới. Hoa không dám đưa nàng về sống chung vì anh vẫn còn ở với bố mẹ. Mắm cũng không muốn về sống chung với bố mẹ Hoa. Nàng muốn tự lập để nuôi con.

Anh Hoa cứ muốn em quên đi cái tên Nước Mắm. Gia đình ảnh đặt cho em tên này, nhờ nó mà em quên được đời sống cũ. Lúc anh Hoa đưa em ra giếng nước để gội rửa, em đã hết sức cẩn thận để nước mắm trên người em đừng dính vào người ảnh. Em đã nghĩ sai. Đáng lẽ em phải để nước mắm thấm vào ảnh như đã thấm vào em. Em nhờ cái chất nước mắm đã thấm vào em mà sống được đến ngày hôm nay. Em đã là nước mắm. Vậy mà ảnh cứ bắt em quên nó đi.

Anh Hoa, ảnh chỉ muốn xa cái tên Nước Mắm.

Về phần tôi, Mắm bảo, còn anh, lần đầu anh gọi em bằng Mắm, anh đã kéo em tới gần anh hơn.

Tôi không hiểu rõ những điều Mắm nói. Lúc đó tôi đang bận tâm về vấn đề khác. Chẳng lẽ tình bạn giữa tôi và nàng chỉ có thể phát xuất và tồn tại nhờ Nước Mắm?


9.

Qua Mỹ một thời gian, Mắm bắt đầu làm nghề “xe lunch” để kiếm sống. Nàng phải mướn xe từ một công ty chuyên về dịch vụ này. Nàng cũng mua các thức ăn uống từ công ty này để bán lại cho khách hàng. Để có thêm lời, nàng phải tự nấu thêm một số các món ăn khác để bán. Xe lunch nào cũng có thiết bị bếp nấu. Công nhân ở Mỹ ít thì giờ ăn trưa nên thích mua thức ăn từ những xe lunch vì tiện lợi và rẻ hơn đi ăn tiệm.

Thức ăn do Mắm nấu bán rất chạy. Nàng luôn luôn có đông khách hàng. Nguyên do rất đơn giản: Mắm bỏ nước mắm vào những món ăn Mỹ do nàng nấu. Mỗi ly cà phê nàng bán cũng điểm một đầu que tăm đã ngâm trong nước mắm. Cà phê nàng ngon nổi tiếng, công nhân mọi nơi cứ đợi xe nàng đến là đổ ra mua.

Cuộc đời của Mắm vẫn luôn luôn dính liền với nước mắm.


10.

Mỗi sáng Mắm chở con đi học rồi ghé qua công ty lấy xe lunch, chất các món nàng đã mua hoặc chuẩn bị sẵn để đi bán tại một số công sở và hãng xưởng nằm trên lộ trình đã được công ty giao cho. Khoảng ba giờ chiều Mắm trở về công ty, thay quần áo rồi lấy xe mình đi đón con tan học. Nàng làm thế năm ngày mỗi tuần.

Một hôm Mắm bị kẹt xe đến hơn một tiếng vì có tai nạn lưu thông trên xa lộ. Mắm không đủ thì giờ để về công ty thay quần áo và lấy xe riêng nên lái thẳng xe lunch đến trường để đón con. Mắm đến vào lúc vừa tan trường. Đợi mãi không thấy con đâu, nàng chạy vào văn phòng hành chánh của trường để hỏi thăm xem con đã ra về chưa. Nàng được thư ký văn phòng cho biết là con nàng đã về cùng xe với một đứa bạn. Nàng trở về công ty, giao xe lunch lại cho chủ, rối lấy xe riêng về nhà.

Vừa gặp con, nàng đã bị nó mắng xối xả vào mặt:

- Tại sao bà lại lái cái xe mắc dịch đó tới trường tui cho bạn bè tui nó cười. Bà còn mặc cái bộ đồ dơ dáy đầy dầu mỡ nữa chớ! Lại còn đầy mùi nước mắm. Bộ bà muốn làm nhục tui hả?

Bấy lâu vì bận bịu công việc nàng không mấy để ý đến con, không ngờ nó lại có những tư tưởng chống đối và coi thường nàng như vậy. Cũng như Hoa, nó chán ghét cái mùi nước mắm của nàng. Mắm đã hy sinh cuộc đời vì con nên câu nói của nó làm nàng vô cùng đau đớn.

Ngày hôm sau, Mắm bỏ nghề xe lunch.


11.

Mắm bị ốm mất mấy ngày. Nàng đâm ra chán nản, không còn tha thiết với cuộc sống. Hoa ghé thăm, đem theo một tô cháo gà cho nàng ăn. Hoa cũng kèm thêm một chén nước mắm nhỏ vì thấy nàng thường rưới thêm nước mắm vào các món ăn.

Mùi nước mắm trong cháo làm sống dậy trong Mắm những hình ảnh cũ. Những trận đòn của mẹ. Trận đòn khắc nghiệt của bố nàng. Cái giếng nước nơi Hoa đã dìu nàng đến, nơi anh gội rửa cho nàng. Cái áo choàng anh khoác lên cơ thể ướt sũng của nàng. Những ngày tháng lê lết ở Sài Gòn. Mắm đã vượt qua được tất cả. Nàng không cần trốn chạy nữa. Nàng sẽ để mọi người thấy rõ sự hiện diện của nàng. Nàng sẽ lan tỏa khắp nơi. Vì nàng là Nước Mắm. Là Mắm.

Một lần nữa Mắm cảm thấy như sống dậy từ cõi chết.

Một người quen của Mắm giới thiệu cho nàng một nghề mới: thêu huy hiệu lên đồng phục, mũ áo của các hãng xưởng. Người quen của nàng phải theo chồng dọn đi tiểu bang khác, bán lại cho nàng hai cái máy thêu cũ. Cùng lúc đó ngành điện tử phát triển mạnh ở California. Các hãng xưởng mọc lên tới tấp, hãng nào cũng muốn nhân viên mặc áo mũ có huy hiệu của mình, coi như đó là một hình thức tiếp thị. Mắm bỗng nhiên nhận được vô số hợp đồng để thêu huy hiệu cho các hãng. Nàng mua thêm máy, mướn nhân viên giúp việc, rồi lập công ty. Nàng nghiễm nhiên trở thành một trong những doanh nhân thành công nhất trong vùng.


12.

Hoa ngỏ lời chính thức lập hôn thú với Mắm sau khi mẹ anh qua đời. Dĩ nhiên là Mắm bằng lòng. Cuộc hôn nhân chính thức của nàng kéo dài được hơn ba năm.

Hoa làm việc cho một công ty lớn ở Bắc California. Anh có bằng kỹ sư ở đây. Anh làm việc chuyên cần, được cất nhắc lên chức điều hành của một bộ phận quan trọng trong hãng. Anh quen tiếp xúc với các đồng nghiệp sinh trưởng ở Mỹ nên từ từ lánh xa cộng đồng người Việt. Anh hay một mình đi dự các buổi tiếp tân của công ty chứ không đi cùng với Mắm. Cô thư ký tóc vàng trong công ty đem lòng ái mộ anh. Dần dần người ta bắt gặp anh và cô ta xuất hiện chung ở các buổi tiếp tân, các buổi tiệc ở công ty. Mắm cũng biết rõ chuyện ấy.

Khi Mắm về chung sống với Hoa, anh nhận ra nàng có một thế giới riêng mà anh không xâm nhập nổi. Mắm không dùng nước hoa, nàng trang điểm rất sơ sài và chỉ dùng những thứ mỹ phẩm rất nhẹ mùi. Hoa mấy lần tặng Mắm nước hoa mà không thấy nàng dùng. Nàng bảo anh nàng không muốn có mùi gì át đi mùi nước mắm. Anh không hiểu nàng nói đùa hay nói thật.

Rồi một hôm, Hoa nói với Mắm anh muốn ly dị nàng. Anh cần một cuộc sống mới. Mắm im lặng nhận lời rồi bắt đầu lo liệu thủ tục cần thiết cho cả hai vợ chồng.


13.

Tôi gặp lại Mắm ở một dạ hội tất niên. Nàng có vẻ buồn và uống rất nhiều rượu đêm ấy. Tôi hỏi thăm thì được nàng cho biết là mẹ nàng vừa mất. Nàng đã bảo lãnh cho mẹ nàng sang Mỹ được mấy năm. Nàng cũng bảo lãnh cho cả bố nàng nhưng ông chưa nhận được giấy chấp thuận thì đã qua đời. Nhớ tới chuyện nàng bị bố mẹ ngược đãi và đã từ không nhận nàng là con, tôi thắc mắc nhưng không dám hỏi. Như đọc được ý nghĩ của tôi, nàng nói:

- Dù gì thì ba má cũng là ba má em, em đâu làm ngơ được.

Thấy tôi chẳng nói gì, nàng tiếp:

- Cả đời em, em chưa bao giờ được nghe má em nói má em thương em, nên em muốn bảo lãnh má em qua Mỹ để hỏi coi bả có thương em không?

Tôi hỏi thế má em có nói gì với em không, vừa hỏi vừa hy vọng Mắm tìm được tình thương của mẹ. Chỉ nghe nàng trả lời:

- Bà già chỉ thú nhận với em là lúc nhận lại em về nuôi, ngày nào bả cũng phải đánh đòn em. Ngày nào không đánh đòn em là ngày đó bả ăn cơm không ngon. Tại em làm cho bả nhớ lý do ba em bỏ rơi bả, tại em là con gái, bả muốn em là con trai mà em lại là con gái…

- Má em chết rồi mà em vẫn chưa được nghe bả nói thương em … Em không buồn đâu, số mạng hết anh ơi ! Số em là số con Nước Mắm. Số em là số con Mắm…


14.

Đêm ấy Mắm nằm bên tôi. Nàng úp mặt vào ngực tôi rất lâu mà chẳng nói gì. Tôi cũng không dám lên tiếng mặc dù rất muốn an ủi nàng vài câu.

Mắm bỗng chợt đứng dậy rồi bỏ ra bếp. Khoảng một phút sau nàng trở lại bên tôi, tay cầm một cái chén. Nàng cởi áo ra rồi nằm xuống bên tôi:

- Đêm nay em sẽ cho anh biết Nước Mắm của anh như thế nào.

Nàng nằm ngửa, nghiêng cái chén cho một dòng nước chảy xuống ngực. Tôi ngửi được mùi nước mắm đậm quánh. Nàng nói:

- Em là Nước Mắm anh ơi ! Nước Mắm đã thấm ướt cả đời em rồi. Em đã chết đi vì nó, và cũng đã sống lại vì nó. Em có thành công bao nhiêu đi nữa, em cũng vẫn là Nước Mắm. Người ta có cần em bao nhiêu đi nữa, người ta cũng không muốn em dính vào người ta. Vì em là Nước Mắm.

Tiếng Mắm vang đều bên tai tôi. Tôi bỗng dưng cảm thấy như mình bị chơi vơi trong khoảng trống. Cố lắm tôi mới xoay được người về phía nàng. Tôi nằm lên người nàng, để ngực mình áp chặt vào ngực nàng, để chất nước mắm thấm qua áo tôi. Tôi có cảm tưởng như nước mắm đã thấm qua làn da và đi thẳng vào buồng phổi tôi. Trong thoáng giây, tôi chợt thấy mình cũng đã hòa tan vào nước mắm.

Chỉ thấy giọt nước mắt của Mắm sáng long lanh trong bóng tối.


* * *


Có những vết thương không bao giờ lành. Có những mùi hương không bao giờ phai. Có những nỗi ám ảnh không bao giờ xóa được.

Tôi có cảm tưởng như tôi chưa kể được hết câu chuyện cho bạn nghe. Tôi muốn kể tiếp và muốn kết thúc câu chuyện bằng những niềm vui, những tiếng cười hạnh phúc. Nhưng câu chuyện tôi lại không được toàn vẹn như thế. Tôi mong bạn thông cảm cho tôi.

Tôi không gặp lại Mắm. Nàng bỏ về sáng sớm hôm sau khi tôi còn ngủ. Nàng đem theo chiếc áo tôi mặc đêm hôm trước. Chiếc áo đã thấm nước mắm từ ngực nàng.

Có lẽ nàng không muốn người tôi còn phải dính mùi nước mắm. Nàng muốn đem nước mắm đi thật xa.

Nhưng nàng không biết mùi nước mắm vẫn còn quấn bên tôi.

Mùi nước mắm không bao giờ tan biến được.


Đỗ Quý Dân

Tuesday, April 17, 2012

GALATEA

1.

- Dạo còn bé, ông có bị ai trong gia đình - bố, mẹ, hay anh chị em của ông - đánh đập không?

Pygmalion ngước mặt lên nhìn người đàn bà vừa đặt câu hỏi đó. Hắn mơ màng chuyển mắt qua bức tường trống sau lưng bà ta. Hắn đang ngồi trong phòng thẩm vấn của nhà tù thành phố. Hắn bị bắt vào đây tối hôm qua vì tội bạo hành tại gia. Vì hắn cứ lảm nhảm những câu nói khó hiểu, ban quản lý nhà tù phải cho mời một chuyên viên xuống thẩm định tình trạng tâm thần của hắn. Nói một cách nôm na, họ cần biết hắn có bị điên hay không. Nếu hắn có vấn đề về tâm thần, họ sẽ không truy tố hắn mà sẽ xin lệnh tòa để đưa hắn sang nhà thương điên. Luật ở thành phố này bắt buộc họ phải làm như thế.

Pygmalion nghe rõ tiếng của người đàn bà nhưng hắn không hiểu bà ta nói gì. Đầu hắn lúc này chỉ chứa đựng một hình ảnh duy nhất: hình ảnh của nàng. Sáng tác của hắn. Ý nghĩa của đời hắn. Nàng. Galatea.


2.

Pygmalion là một điêu khắc gia nổi tiếng trong nước. Những tác phẩm điêu khắc của hắn có mặt khắp nơi. Các viện bảo tàng nghệ thuật, các nhà văn hóa trong nước, đâu đâu cũng trưng bày những tác phẩm của hắn.

Trong con mắt của mọi người, hắn đã thành công, đã đạt đến tột đỉnh danh vọng. Mọi người đều nghĩ là hắn sung sướng, hạnh phúc nhất thế gian. Nhưng chính hắn lại không cảm được điều đó. Hắn mơ hồ cảm thấy những tác phẩm của mình có khuyết điểm. Hắn không hiểu rõ đó là khuyết điểm gì, chỉ biết khi nhìn lại tác phẩm mình vừa hoàn tất, hắn có cảm tưởng như nhìn một người bệnh nặng trút hơi thở cuối cùng. Mỗi tác phẩm là một đám tang cho chủ đề sáng tạo của hắn.

Cho đến khi hắn tạo ra nàng.


3.

Ba năm trước…

Hắn là khách mời danh dự của một buổi triển lãm nghệ thuật cổ. Từ khi bắt đầu nổi tiếng, hắn chẳng còn để ý mấy về nghệ thuật điêu khắc cổ xưa mà chỉ luôn đi tìm cái mới, cái lạ. Hắn đã được nhiều nhà phê bình nghệ thuật ca tụng như một thiên tài trong ngành điêu khắc đương đại và hắn rất tự hào về điều đó. Thế nhưng hôm ấy, đứng trước pho tượng cổ mà hắn nhớ loáng thoáng là tượng nữ thần Venus, hắn chợt thấy xúc động. Pho tượng chẳng có gì mới lạ, nhưng có một nét sống động mà đã lâu hắn không còn nhìn thấy. Khuôn mặt pho tượng như cười với hắn, nửa đùa giỡn, nửa khiêu khích. Trong đầu hắn bỗng vang lên một thứ âm thanh quyến rũ, cái quyến rũ của sự hứa hẹn.

Buổi triển lãm đã tan mà hắn vẫn còn cảm giác ngây ngất. Niềm tin về khả năng sáng tạo bỗng chợt hồi sinh. Hắn thấy trong người có một động lực từ đâu đó chợt xuất phát, tước đi khả năng cưỡng kháng của hắn. Hắn quyết định phải tạo ra nàng. Vừa về đến nhà là hắn đã đi thẳng vào studio, cho người đem ra một khối đá lớn để bắt đầu tạc tượng. Hắn làm việc một cách say mê. Khối đá vô tri từ từ biến hình, và nàng đã ra đời, như Venus đã từng ra đời từ bọt biển.

Hắn gặp nàng lúc ra khỏi cơn mê. Ngay giây phút đó, hắn biết hắn đã yêu nàng.


4.

Trích từ một bài phê bình nghệ thuật đăng trên tập san Nghệ Thuật Ngày Nay số 210 :

“Galatea, tác phẩm mới nhất của điêu khắc gia lừng danh Pygmalion, đánh dấu sự chuyển hướng của nghệ sĩ. Galatea phảng phất nét của những bức tượng cổ, tương tự như những tác phẩm điêu khắc thời Phục hưng. Phải chăng Pygmalion đã mệt mỏi với nghệ thuật đương đại, luôn đòi hỏi cái mới, lạ, nặng về tư duy hơn về cảm xúc con người. Phải chăng nghệ sĩ đang hát bài ca giã từ để chia tay với nàng Sáng Tạo... –Dan Do”

Pygmalion đã mời công chúng đến gặp Galatea tại studio ở tư gia. Hắn muốn giới thiệu nàng, người tình mới của hắn, với tất cả mọi người. Hắn hãnh diện và hạnh phúc vì nàng. Hắn chỉ giới thiệu nàng chứ không giới thiệu bất cứ một tác phẩm nào khác. Khách xem tượng thấy mất đi vẻ ảm đạm cố hữu ở hắn. Họ hầu như không còn nhận ra chàng Pygmalion ngày trước. Con người cũ của hắn đã tan loãng vào một thế giới riêng để nhường chỗ cho một con người mới. Con người mới này do nàng tạo ra. Hắn bây giờ là sản phẩm của nàng. Pygmalion của Galatea.

Thế giới nghệ thuật xôn xao. Đa số các tay phê bình nghệ thuật đồng ý với Dan Do, cho rằng hắn đã mệt mỏi, nguồn sáng tác đã kiệt quệ, giờ chỉ còn dựa vào những thành tích đã đạt được trong quá khứ để duy trì danh tiếng. Họ ngỏ ý tiếc nuối tài năng của hắn và họ diễn tả sự tiếc nuối đó bằng những lời giả tạo cần thiết, nghe như những lời chia buồn cùng những gia đình có người thân vừa qua đời. Những lời chia buồn của những kẻ không hiểu về nỗi buồn của người mình an ủi thường chỉ nặng về hình thức, nói ra chỉ để nói, cả người nói và người nghe đều biết thế, nhưng chẳng ai quan tâm. Những bài phê bình về hắn cũng thế. Viết để viết, để người đọc quên đi điều mình đọc, để đưa tên hắn vào quá khứ, vào lãng quên. Như những bản cáo phó đăng trên báo.


5.

Pygmalion mất ngủ đã mấy đêm. Hắn không mất ngủ vì những lời bàn tán của thiên hạ vì thực ra hắn chẳng hề biết mọi người bàn tán ra sao, hắn mất ngủ vì cảm thấy tình yêu của hắn không được nàng đáp lại. Nàng là tượng đá, dù hắn có tha thiết tỏ tình với nàng đến đâu đi nữa, nàng cũng chẳng động tâm.

Như một kẻ đang hạnh phúc bỗng chợt khám phá ra mình sống trong ảo tưởng, hắn thấy mình bị hụt hẫng. Hắn đâm ra giận dữ, gắt gỏng, và không ngủ được khi đêm về. Nghệ thuật, tác phẩm, không gian, thời gian, tất cả bỗng trở thành vô nghĩa. Hắn trở nên mê muội. Những lúc hơi tỉnh táo lại, hắn thấy mình như đang bấp bênh giữa hai cõi thực và ảo.

Hôm ấy vào đầu tháng tư. Cô thư ký vừa nhắc cho hắn về buổi hẹn với Dan Do. Gã viết báo này muốn gặp hắn để phỏng vấn. Trong đám nhà báo, hắn thích gã này nhất, vì gã không đến nỗi quá giả tạo. Hắn cũng đang muốn gặp gã. Hắn đang có nhu cầu tiếp xúc với người ngoài, đại khái như nhu cầu của một kẻ đắm thuyền tìm nơi bám víu.

Hắn ngập ngừng bước vào studio, nơi Dan Do hẹn gặp hắn. Nàng cũng đang ở đó. Hắn do dự không biết có nên gặp nàng không? Mấy hôm nay hắn đã tìm cách để quên nàng nhưng không được. Cặp mắt nàng vẫn nhìn hắn. Nàng đứng trước mặt hắn như một thiên thần, cả người nàng toát ra một vẻ siêu thoát, không có đến một khuyết điểm.

Nhưng nàng vẫn không nói với hắn một câu nào.

Hắn chợt thấy không gian trước mặt mờ đi sau một màn sương đỏ thẫm. Màu đỏ của cuồng nộ, cái thứ cuồng nộ phát sinh từ nỗi tuyệt vọng của con người. Hắn không ý thức mình đã làm gì trong phút giây cuồng nộ đó, mà chỉ bừng tỉnh khi âm thanh của vỡ đổ vang lên ở chung quanh. Hắn chợt thấy mình đang nắm chặt một chiếc búa lớn trong tay, mặt đất chung quanh phủ đầy những mảnh đá vỡ vụn, và sau đống đổ nát đó, hắn nhìn thấy nàng. Bằng xương bằng thịt. Nàng đứng đó, cặp mắt còn loang niềm sợ hãi. Và nàng chợt bật khóc.

- Tuyệt diệu, thật là tuyệt diệu!

Giọng của gã phóng viên nghệ thuật vang lên giữa khung cảnh huyền bí đó. Không biết gã đến từ lúc nào. Chỉ thấy gã tiếp tục ca tụng hắn:

- Ông đã “sáng tạo” ra tác phẩm chết rồi hủy nó đi để tạo nên tác phẩm sống. Ông đã chuyển được nghệ thuật từ tượng đá vào người mẫu! Chưa có ai đã đem được sự sống vào tác phẩm như ông vừa làm.

- Màn biểu diễn quá trình sáng tạo này quá tuyệt vời. Người mẫu hóa ra hình tượng, hình tượng trả về cho người mẫu. Cảm hứng đi đến thực thể, thực thể đi đến sự sống. Mà sự sống chính là nơi cảm hứng bắt đầu. Đơn giản thế mà không ai nghĩ ra!

- Tôi vẫn không tin là ông bỏ cuộc, bỏ sáng tạo. Tôi vẫn tin là Galatea của ông có ý nghĩa vượt trên hình tượng của nàng. Và tôi đã tin đúng. Chỉ có ông mới có được khả năng sáng tạo này!

Hắn để mặc gã phóng viên lải nhải. Hắn tiến về phía trước và dang hai tay ra ôm nàng. Hắn cảm được sự mềm mại của đôi tay, nghe được hơi thở phập phồng trong lồng ngực và bất giác cúi xuống hôn lên đôi môi nàng đang hé mở. Nàng đứng im không một phản ứng, nhưng rõ ràng nàng có sự sống ở trong người. Nàng ĐÃ có sự sống. Nàng bây giờ mới đích thực là tác phẩm của hắn.


6.

Và Galatea đột nhiên trở thành tác phẩm điêu khắc nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật. Sau khi tập san Nghệ Thuật Ngày Nay cho đăng bài viết của Dan Do, giới truyền thông đổ xô về để phỏng vấn nàng. Họ thi nhau viết về nàng, về hắn. Họ đã từng đối thoại với nghệ sĩ, nhưng đây là lần đầu tiên họ đối thoại trực tiếp với “tác phẩm”.

Hắn chẳng thèm đọc những bài viết đó, vì thực ra, hắn có đọc cũng chẳng hiểu các bài viết đó nói gì. Hắn không hiểu những người viết đã đành, họ cũng chẳng hiểu gì về hắn, về tác phẩm của hắn, về nàng. Nhưng hắn chẳng quan tâm. Hắn đang hạnh phúc.

Dan Do là một trường hợp ngoại lệ. Gã là người đã có mặt lúc nàng ra đời. Gã đã chứng kiến hắn nắm lấy đôi tay sống, vuốt lên bờ ngực sống và hôn lên đôi môi sống của nàng. Gã đã chứng kiến giây phút huy hoàng của sáng tạo.

Có điều hắn hơi bực mình về cái gã Dan Do này. Gã cứ gọi nàng là người mẫu. Hình như gã nghĩ là hắn đã thuê một cô người mẫu để tạc tượng rồi sau đó hủy pho tượng đi để biến cô người mẫu thành pho tượng sống, thành tác phẩm của hắn. Đúng, nàng là tác phẩm của hắn, nhưng nàng không phải là người mẫu! Cái gã Dan Do này không hiểu gì mà cứ làm như mình hiểu hết mọi chuyện! Tuy bực mình, hắn vẫn không phản đối. Dù gì cái gã phóng viên đó đã có cái duyên với hắn, gã đã trở thành một phần của tác phẩm hắn tạo ra. Hắn mơ hồ cảm thấy tác phẩm của hắn không chỉ giới hạn ở con người nàng. Tác phẩm của hắn đã vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát của hắn.


7.

Và chính Galatea đã vượt ra ngoài phạm vi kiểm soát của hắn.

Những ngày đầu tiên được phỏng vấn, Galatea rất bối rối. Nàng luôn luôn chờ đợi hắn thay nàng trả lời những câu hỏi các phóng viên đặt ra. Nàng chỉ biết mỉm cười và phụ họa cho hắn. Tuy thế, nàng vẫn đủ sức chinh phục những phóng viên khó tính nhất, và khi viết về nàng, họ luôn ví nàng như một thiên thần, biểu tượng cho những gì đẹp nhất, thanh khiết nhất.

Vào khoảng thời gian ấy, nàng không dám ra ngoài một mình. Nàng để cho hắn quyết định mọi chuyện. Hắn đi đâu nàng theo đó, như hình với bóng. Hắn nghĩ nàng yêu hắn. Như hắn đã yêu nàng.

Rồi nàng bắt đầu làm quen với nếp sống mới. Nàng xuất hiện thường xuyên trước công chúng. Sự bối rối giảm đi. Nàng không còn ngại phải trả lời nhà báo. Giới truyền thông trực tiếp phỏng vấn nàng chứ không còn qua trung gian của hắn. Nàng được nhiều công ty thời trang nổi tiếng mời làm kiểu mẫu, hình ảnh nàng được đăng khắp nơi, nàng nghiễm nhiên trở thành thần tượng của giới trẻ. Các cô thiếu nữ bắt đầu để tóc kiểu Galatea, mặc những kiểu áo Galatea, đeo những cái ví xách Galatea. Chẳng ai còn nhắc đến hắn nữa, vì sự thành công của tác phẩm đã dần dà đưa tác giả vào lãng quên.

Nàng tự nhiên trở thành một thực thể độc lập, không còn nương tựa vào hắn. Nàng không còn thích đi chung với hắn nữa. Hắn với nàng không còn như hình với bóng. Bóng đã rời hình. Bóng nàng đã che khuất hình hắn.

Và nàng bắt đầu muốn sống riêng. Độc lập. Cách xa hắn.


8.

Lần đầu nàng ngỏ ý muốn tự mình tiếp xúc với giới truyền thông, hắn cảm thấy hãnh diện. Nàng là sản phẩm sáng tạo của hắn. Từ một cô gái nhút nhát, nàng giờ đây đã đủ bản lãnh để đối đầu với thế giới bên ngoài, hơn thế nữa, nàng đủ khả năng để chinh phục những kẻ đối diện. Hắn vẽ ra hành trình để nàng đi, nghĩ ra những cách để nàng tiến xa trên cuộc hành trình đó. Mục đích của nàng là mục đích của đời hắn. Mỗi khi nàng được giới truyền thông ca tụng, hắn có cảm tưởng như chính hắn được ca tụng, được tôn thờ. Nói chung, hắn cảm thấy mãn nguyện, cái mãn nguyện của một nghệ sĩ lúc chiêm nghiệm về một tác phẩm đắc ý của mình. Hắn không sợ nàng thay đổi, trái lại, hắn nói với nàng là hắn muốn nàng luôn thay đổi, để hắn còn khám phá, để hắn mãi mãi khám phá những cái mới, những cái vi diệu ở nàng. Tác phẩm của hắn. Galatea.

Cho đến lúc nàng đòi chia tay với hắn.

Hắn vẫn còn trong người cái lý tưởng của một nghệ sĩ. Cái lý tưởng của hắn chấp nhận sự chia tay. Nhưng hắn lại si mê, tôn thờ nàng như một tín đồ ngoan đạo tôn thờ thượng đế. Hắn không thể sống xa nàng, như tín đồ không thể rời xa thượng đế. Nàng là hơi thở, là sức sống của hắn, nàng là niềm tin của hắn. Hắn căm ghét sự tầm thường nên căm ghét quỵ lụy, vì quỵ lụy là tầm thường. Nhưng hắn đã phải quỵ lụy với nàng. Hắn đã khóc, đã khẩn cầu nàng ở lại, đã xin nàng bỏ ý định ra đi.

Và nàng đã chiều hắn. Nàng đã ở lại. Nói đúng hơn, thể xác nàng ở lại. Pho tượng đá ngày nào giờ đã được ráp lại, nguyên vẹn như chưa từng bị đập vỡ. Còn linh hồn tượng đá một lần nữa lại ra đi.

Hắn lại đối diện với tượng đá như lúc hắn chưa ra tay xáng nhát búa định mệnh.


9.

Là người nhạy cảm, Pygmalion nhận ngay ra sự đổi khác của nàng. Hắn muốn nàng thay đổi, nhưng không phải thay đổi để trở về tình trạng ban đầu, lúc tác phẩm còn lệ thuộc vào búa dùi điêu khắc. Hắn không muốn nàng trở lại kiếp vô tri của một khối đá. Nàng vô tri, hắn sẽ vô giác, sự sống của hắn đã tùy thuộc vào hơi thở của linh hồn nàng. Hắn sẽ chết khi linh hồn nàng tắt thở.

Galatea rời nhà mỗi sáng khi mặt trời vừa mọc và chỉ trở về nhà lúc trời đã tối khuya. Giữa nàng với hắn không còn đối thoại. Hắn có thăm hỏi thì cũng chỉ nghe được những câu trả lời nhát gừng, trả lời cho qua mà thôi. Dần dà hắn cũng thôi không hỏi nữa, để khoảng cách im lặng giữa hắn và nàng ngày càng dày thêm. Hắn cằn cỗi trong im lặng và mơ hồ cảm thấy nàng cũng cằn cỗi theo hắn. Và niềm tin về khả năng sáng tạo của hắn cũng dần dần khô héo theo.

Cứ thế mà ba năm đã qua.


10.

Hôm qua, hắn vô tình xem được ảnh khỏa thân của nàng đăng trên một trang web. Hắn suýt không nhận ra nàng vì cái dáng điệu dung tục của người trong ảnh. Những bài viết kèm theo hình ảnh trên trang web đầy giọng miệt thị, đại khái phê bình nàng đã vì tham danh, tham tiền mà đánh mất tư cách của một người nữ đã từng được coi như thiên thần. Dưới con mắt của những tay viết đó, nàng là một loại điếm hạng sang, là vợ bé của đồng tiền, là món hàng mua được bằng giá cao ở xã hội tiêu thụ. Chỉ có bài viết của Dan Do là còn chút nương tình. Gã đưa ra giả thuyết là “tác phẩm” (nàng) và “tác giả” (hắn) đang chuẩn bị cho một giai đoạn “sáng tạo” mới, và những hình ảnh trên mạng chỉ là một sự sắp đặt của hắn, một màn biểu diễn ngoạn mục như màn biểu diễn ba năm về trước, khi điêu khắc gia đưa sự sống vào tác phẩm mình bằng cách cho tượng đá vài nhát búa. Gã lý luận rằng nàng và hắn không có những nhu cầu về danh vọng và tiền bạc, vì cả hai đã quá thành công trên những phương diện đó. Dưới con mắt của Dan Do, Pygmalion đang chủ động việc hủy hoại hình ảnh thiên thần của nàng để sáng tạo một hình ảnh mới, toàn thiện hơn nhưng cũng nhân bản hơn hình ảnh của nàng Galatea của giai đoạn chuyển hóa từ đá thành thịt xương.

Nhưng bài viết của Dan Do không đủ thuyết phục để xóa tan màn sương đỏ thẫm đang tái hiện trước mắt hắn. Khi màn sương đỏ thẫm đó tan đi, khi hắn tỉnh táo lại, hắn thấy nàng nằm đó, trước mặt hắn, quằn quại trên mặt đất, máu rỉ ra hai bên mép.

Giây phút đó, mặc dù hắn xót xa cho nàng, hắn cảm thấy có chút phấn khởi trong người, vì chợt có cảm tưởng như cuộc sống đã trở lại với tượng đá.

Và hắn như mê đi khi bị còng tay đưa về sở cảnh sát vì tội bạo hành tại gia.


11.

- Ông có thể ra về. Cô Galatea đã tường thuật với báo chí là sự việc xảy ra giữa ông và cô ấy chỉ là sự sắp đặt của hai người để diễn tả sự xung đột giữa tác giả và tác phẩm. Cô ấy giải thích cho chúng tôi là màn kịch của ông và cô ấy được gọi là nghệ thuật biểu diễn. Chúng tôi đã nói chuyện với nhiều người khác, kể cả phóng viên Dan Do để kiểm chứng sự việc. Cô Galatea còn quay cả video để đưa lên truyền hình. Ông có thể tự do về nhà. Chúng tôi xin lỗi đã làm phiền ông.

Thấy hắn không có phản ứng gì, người đàn bà nói tiếp:

- Tuy ông không bị truy tố ra tòa, tôi cũng mong ông bà thôi không tiếp tục biểu diễn như thế. Tôi không biết bà nhà ra sao, nhưng về phần ông, tôi thấy tốt hơn hết ông nên đi gặp bác sĩ tâm lý, vì hình như ông đang sống trong ảo tưởng.


12.

Pygmalion lặng lẽ ra về. Hắn không nhớ đã bị cảnh sát bắt giữ bao lâu. Hắn không biết nàng có đang chờ hắn ở nhà hoặc đã bỏ đi. Hắn mong được gặp nàng nhưng cũng sợ phải gặp nàng. Hắn phải nói gì với nàng đây? Hắn đã làm nàng tổn thương. Nàng có còn muốn nhìn mặt hắn không?

Hắn chợt thấy thèm cái cảm giác va chạm với nàng lần đầu tiên. Cái cảm giác lần đầu tiên được sống, được đối diện với sự sống. Hắn nghĩ nguyên do cái cảm giác đó đến được với hắn là vì hắn đã để cơn cuồng nộ thúc đẩy hắn hủy hoại nàng, khi nàng còn là tượng đá. Hắn cũng vừa để cuồng nộ thúc đẩy hắn gây tổn thương cho nàng. Liệu cơn cuồng nộ mới đây có đem lại sự sống mới cho nàng không? Hắn mơ ước sẽ một lần nữa được chạm vào làn da sống của nàng, được nghe hơi thở sống của nàng, và được hôn lên cặp môi sống của nàng. Như hắn đã từng được hưởng thụ vào ngày nàng thoát thân khỏi tượng đá.

Hắn biết cuộc đời hắn sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu hắn không tìm lại được cái cảm giác ban đầu đó. Hắn mơ hồ cảm thấy mình đòi hỏi quá nhiều nhưng hắn thực không còn sự lựa chọn nào khác. Hắn phải giúp nàng hồi sinh, giúp nàng thoát khỏi kiếp tượng đá vô hồn vô cảm.

Vì hắn đã hiểu. Hắn chỉ là tượng đá nếu tác phẩm của hắn thiếu đi sự sống.

Hắn phải làm gì đây?


ĐOẠN KẾT

Dan Do mở phong bì có đề tên người gửi là Pygmalion. Gã lôi từ phong bì ra một cái đĩa DVD. Gã lắp đĩa vào máy. Hình ảnh của Pygmalion hiện ra trên màn ảnh máy vi tính. Trước mặt Pygmalion là một pho tượng sáp. Pho tượng của Galatea…

Hai hôm trước gã đọc báo thấy có tin biệt thự của Pygmalion bị cháy. Đội cứu hỏa tốn hết mười giờ đồng hồ mới dập tắt được ngọn lửa…

Trên màn ảnh, bàn tay của Pygmalion đang mơn trớn tượng sáp. Hắn xoa tay lên mặt tượng, bóc ra một lớp sáp để lộ một đôi môi đang hé nụ cười. Bàn tay hắn lại rơi xuống ngực tượng. Một lớp sáp khác lại vỡ ra, ngực của Galatea bấp bênh như đang phập phồng hơi thở. Pygmalion chuyển tay xuống phía dưới, nắm lấy tay tượng. Sáp lại vỡ. Bàn tay thon nhỏ của pho tượng chợt duỗi ra, bám vào tay hắn. Một điệu nhạc trỗi lên. Galatea duỗi vai rồi ngẩng mặt lên nhìn Pygmalion. Hai thân hình hòa hợp lại thành một…

Bản tin đăng trên báo cho biết là sở cứu hỏa đang điều tra lý do của vụ hỏa hoạn. Dựa theo báo cáo sơ khởi, nhà Pygmalion bị cháy là do người đốt chứ không phải là một tai nạn bất ngờ…

Gã tiếp tục chăm chú nhìn vào màn ảnh. Gã nhận ra được vẻ tiều tụy của Pygmalion và nét đẹp siêu thoát của Galatea. Hai người nhìn vào mắt nhau, không nói một lời nào…

Gã chợt cảm thấy trong người có một niềm xúc động dâng trào. Gã không dám nhìn vào hai người nữa, chỉ để mắt quan sát phạm vi của căn phòng đã được thu hình và đang chiếu trên màn ảnh.

Sàn nhà chung quanh chỗ đứng của Pygmalion và Galatea có trải đầy củi gỗ. Gã mơ hồ thấy được lớp củi đó bị thấm một chất ướt…

Hình như bản báo cáo có đề cập đến dấu vết của củi bị tẩm xăng nơi khu phòng khách. Bản báo cáo cũng đề cập đến việc nhân viên sở cứu hỏa không tìm thấy dấu vết của người nào trong đống tro tàn…

Dan Do thở hắt ra. Gã tự hỏi sự thiêu hủy của cả tác giả lẫn tác phẩm sẽ đưa đến sáng tạo gì?

Cho đến hôm nay, gã vẫn chờ đợi Pygmalion về để giải đáp thắc mắc của gã.


Đỗ Quý Dân

Saturday, April 14, 2012

NÀNG THƠ

Anh đã vì Em bỏ rơi người tình chung thủy
Những mối tình xưa
Giờ chỉ là những ngôi quán trọ
Anh đã vì Em bỏ quên tình yêu chồng vợ,
Em mách cho Anh nghe
Tình yêu ấy giờ đây thành Luận Lý
Em cho Anh cẩm nang làm Thi Sĩ
Và chỉ cho Anh nơi hò hẹn đôi ta
Ở chốn không là
Chốn Anh đã đi qua.

Anh đã vì Em quên vực sâu trước mặt
Nhảy từ Hy Mã xuống lãng quên
Rồi căng buồm lên chiếc du thuyền
Để vượt biển cát vàng trên sa mạc
Địa đàng xưa, vì Em Anh từ bỏ
Chẳng chia tay chàng ngớ ngẩn Adam
Anh bắt chước Eve cắn vào Trái Cấm
Bước xuống sân đời khiêu vũ cùng Em

Anh rất hay đổi thay
Vì Em cần thay đổi
Trong vũ trụ vô cùng
Chỉ có Đổi Thay là Tuyệt Đối
(Nên Em phải thay đổi)
Nên Anh không tin tình yêu mãi mãi
Nên Anh không tin niềm tin mãi mãi

Anh gọi tên Em
Từ chốn cực vi của từng nguyên tử
Là giai nhân – Em không tầm thường thế
Là yêu tinh – Em không là huyền thoại
Là thần tiên – Đừng đề cao Em mãi
Em không là hạnh phúc
Nhưng Em như Khoái Lạc
Bùng lên giữa cơn đau
Của tột cùng thân thể
Em không là bếp hồng sưởi ấm,
Mà là tia chớp nhoáng lên
Sáng hơn cả mặt trời
Em không là trạm dừng chân
Của người lữ thứ
Đang lạc bước trên con đường vô định
Em không là bình yên
Chẳng bao giờ Em cần ngơi nghỉ
Em không là dinh dưỡng
Vì Em luôn vắt kiệt sức Anh
Em không là hồi sinh
Nhưng từ Em Anh ngang nhiên trỗi dậy
Và giết chết đi những cái chết trong sự sống
Em không là Tự Do
Nhưng Em là Tự Hữu
Em ban Anh tự do
Nên anh trở thành Nô Lệ.

Em mỉm cười khi Anh gọi tên Em
Tên Em là Nàng Thơ
Em là Em, Em là Anh, Em là tất cả…

Em hẹn Anh nửa đêm trên đỉnh đồi Sáng Tạo
Anh nhìn thấy đồi nhưng chẳng thấy đường đi
Bỗng chợt thấy mình lạc trên hoang đảo
Em lại hiện ra chỉ lối Anh đi

Em đưa Anh vào những cuộc tình
Khi tim anh ngập ngừng đứng lại
Rồi xúi Anh phụ tình
Khi Em hóa thân làm tình nhân mới

Anh vẫn biết đời là bể khổ
Phải quay đầu mới thoát khỏi biển mê
Anh muốn thử bơi về miền Giác Ngộ
Nhưng sợ đi lại chẳng có đường về

Em bảo Anh đừng ngại chi lầm lỡ
Tìm giác ngộ ta cùng vỗ cánh bay,
Anh thét vang trên đỉnh những tầng mây
Nhìn xuống chân, đời vẫn còn Bể Khổ.

Đỗ Quý Dân

(This version contains a slight revision of the original version)

Sunday, April 8, 2012

CÁI GƯƠNG HỎNG

Theo lời người thuật, câu chuyện này được lấy từ một quyển nhật ký, có nhiều chỗ đã bị rách hoặc dơ không đọc được. Anh ta quên không cho biết nhật ký nhặt được ở đâu, viết bằng ngôn ngữ gì và nhặt được trong trường hợp nào. Lúc thuật chuyện, mặt anh có nét lo âu nhớn nhác, giọng anh kể nhiều lúc bị lạc đi làm tôi (người ghi lại lời anh thuật) không tập trung vào câu chuyện được. Do đó, mức độ chính xác của những điều tôi ghi lại dưới đây chỉ ở khoảng 50-60 phần trăm mà thôi. Tôi lại không phải là lục sự tòa án, nên chưa được huấn luyện cách ghi chép cho đầy đủ và chính xác. Tôi thành thật xin lỗi vì đã bỏ sót nhiều chi tiết quan trọng. Có lẽ 50 phần trăm (chính xác) cũng là nói quá. Thôi thì bạn hãy coi như đây là một câu chuyện thật dựa trên những thông tin không chính xác.

À, xin thưa với bạn người xưng “tôi” ở phía dưới không phải là tôi mà là tác giả của quyển nhật ký người thuật đã nhặt được. Tôi muốn bạn được nghe người viết nhật ký kia “tự mình” kể lại câu chuyện này.



1.

Ngày… tháng… năm …

Tôi có thói quen hay đứng trước gương ngắm mình vào buổi sáng trước khi đi làm và vào lúc chiều tối khi tan sở về nhà.

Thành phố … (chữ mờ quá người thuật không đọc được), nơi tôi đã lớn lên từ bé, rất nổi tiếng về công nghệ làm gương. Có những tấm gương giá đắt bằng tiền lương tôi làm một năm. Thế mà vẫn có người mua. Tôi may mắn được thừa hưởng tấm gương của cha tôi để lại. Tôi mơ hồ được biết tấm gương đó là bảo vật gia truyền do ông cố phía bên nội của tôi tự tay làm ra. Ông cố tôi đã từng là thợ làm gương nổi tiếng trên đất nước này. Nhiều lúc soi gương tôi có cảm tưởng như thấy hình ảnh của ông cố tôi trong ấy.

Tôi làm kế toán cho sở thông tin thành phố. Tức là nhân viên của nhà nước. Nói là kế toán chứ công việc của tôi chỉ vẻn vẹn là tính lương cho các nhân viên trong sở, và làm sổ sách ghi lại những chi phí của sở cũng như của các xếp khi họ đi thi hành công vụ ở ngoài. Tôi làm toán giỏi, chưa bao giờ có nhân viên nào than phiền bị tôi tính sai tiền lương. Mặc dù tôi làm toán nhanh, những bài tính cộng trừ nhân chia cũng chiếm hết ngày giờ của tôi, nên tôi rất ít khi rảnh rỗi.

Con đường đi từ nhà tôi đến sở không dài lắm. Cạnh nhà tôi có một tu viện bỏ hoang, phía trước có hàng rào sắt (đã hoen rỉ) chạy dài từ cột đá này sang cột đá khác. Tu viện nằm trên một khu đất khá dài, và con đường tôi đi làm mỗi ngày chạy dọc theo khu đất đó. Tôi không rõ tu viện đã bỏ hoang từ thời nào, nhưng ngày nay nhà nước cấm không cho ai vào và để cỏ hoang mọc đầy phía sau hàng rào sắt. Vì thế khu đất của tu viện lúc nào cũng đượm vẻ hoang vắng, mỗi lần đi ngang qua đấy tôi cảm thấy lòng mình lạnh lẽo.

Đi hết khu đất tu viện là đến công trường L. Bên kia công trường là cây cầu đá bắc ngang sông H (trong nhật ký tên công trường và tên sông viết tắt, người thuật lại chuyện cũng không rõ tên gì, nên cứ để nguyên như thế). Bên kia sông là sở thông tin nơi tôi làm việc sáu ngày trong tuần.

Hôm qua giám đốc gọi tôi vào văn phòng. Ông bảo tôi cho A (cũng viết tắt) nghỉ việc. A làm việc rất giỏi, cả sở ai cũng biết. Tính tình anh lại cởi mở và hòa đồng nên ai cũng mến. Tôi không dám từ chối giám đốc nhưng không nghĩ mình có đủ can đảm và thẩm quyền để làm việc giám đốc nhờ. Tôi đang ấp úng tìm lời nói để thoái thác thì giám đốc đã gằn giọng:

- Anh trả lương cho hắn thì đuổi hắn là hợp lý. Đừng thắc mắc gì cả!

Chao ôi, tôi chỉ là người tính tiền lương chứ đâu phải là người trả lương cho A. Nhưng thấy giám đốc đã quắc mắt và sẵng tiếng với tôi, tôi chỉ biết gật đầu và lặng lẽ cáo lui. Tôi về bàn mình, bỏ dở công việc đang làm, ngồi loay hoay suy tính hết nửa giờ mới nghĩ ra phương pháp để thi hành lệnh của giám đốc. Tôi lấy một tờ giấy, viết lên đó một dòng chữ, đại khái nói là ông giám đốc bảo tôi cho A nghỉ việc. Tôi đến bàn của A đưa tờ giấy đó cho anh. A mở giấy ra đọc rồi ngước lên nhìn tôi, ánh mắt quắc lên như định gây sự. Xong chỉ ngay sau đó, ánh mắt A dịu đi, anh mở ngăn kéo, gom góp vài món đồ bỏ vào cặp rồi bình tĩnh đứng lên, quay lưng đi ra cửa. Anh cũng không quay lại nhìn tôi hoặc nói một lời nào. Tuy áy náy, tôi cũng rất mừng vì đã thi hành xong nhiệm vụ. Tôi nhặt tờ giấy mình viết (A đã để lại trên bàn), xé vụn đi rồi trở lại bàn mình. Sau đó, tôi cứ bần thần không làm việc được nên mãi đến gần 9 giờ đêm mới hoàn tất những công việc phải làm trong ngày. Lúc khoác áo bước ra cửa, tôi tưởng như ai đó đã đem một tấm gương đặt trước cửa sở…

Tôi đang cảm thấy người mệt rã rời.



2.

Ngày … thàng … năm …

Hôm qua tôi mệt nên không đủ sức ghi lại chuyện đã xảy ra cho tôi trên đường về nhà lúc băng qua công trường L. Ai đã sống ở thành phố này cũng biết công trường L xưa kia là một bãi tha ma, sau này nhà nước cho dọn hết mồ mả đi chỗ khác rồi lát xi-măng lên trên. Một pho tượng cao lớn dựng trên bệ xi-măng đứng sừng sững giữa công trường. Đây là tượng của một người đàn ông cụt chân, có chân gỗ gắn thay vào. Người đàn ông tay phải chống gậy, tay trái thọc vào túi áo, vẻ mặt rất nghiêm khắc nên tôi chưa bao giờ dám nhìn lâu vào mặt ông. Từ trước đến nay tôi vẫn không rõ ông là ai, chỉ đoán lờ mờ là một người đã có công lớn trong cuộc cách mạng đẫm máu của dân tộc ngày trước. Lúc cuộc cách mạng xảy ra, tôi chỉ là đứa bé lên năm nên không có một ấn tượng nào về các biến cố lịch sử ngày đó.

Tôi đi ngang qua công trường L vào khoảng 9 giờ tối. Bóng của pho tượng dưới ánh đèn đường hiu hắt bỗng tự nhiên khoác lên một vẻ huyền bí. Tôi ít khi đi ra ngoài vào ban đêm, mọi ngày chỉ đi làm về ngang công trường lúc hoàng hôn chưa chìm vào bóng tối. Tôi biết mình là người nhút nhát nhưng xưa nay chưa bao giờ tôi có cảm giác sợ hãi như tối hôm qua.

Tôi gắng bước nhanh hơn để về đến ngôi nhà quen thuộc của mình. Lúc từ công trường L băng qua đường để đi đến khu đất của tu viện bỏ hoang, tôi chợt nghe thấy một tiếng động lớn như có ai dùng gậy đập vỡ một tấm gương. Tôi quay đầu nhìn quanh không thấy có bóng người nào ngoại trừ một vài chiếc xe gắn máy trên đường. Tôi đứng yên một lúc để quan sát chung quanh rồi lại tiếp tục đi về nhà.

Tôi chỉ vừa đi được vài bước đã nghe có tiếng chân người theo sau. Mặc dù chưa bao giờ để ý đến âm thanh của những bước chân đi bộ, tôi tin chắc tiếng chân sau lưng tôi là của người tàn tật phải chống gậy. Tôi ngoái đầu ra sau mà chẳng thấy ai, bất giác đưa mắt nhìn về phía pho tượng ở giữa công trường. Chỉ thấy pho tượng vẫn sừng sững đứng trong bóng đèn đêm mờ ảo. Tôi cố bật cười để tự trấn an rồi tiếp tục bước chân về nhà.

Lúc về nhà đứng soi gương, tôi thấy tấm gương có một đường gạch dài chạy xéo từ góc trái phía trên xuống góc phải phía dưới. Tôi tưởng gương bị nứt nhưng không phải. Tôi không rõ đường gạch đó là gì nữa. Đứng nhìn mình trong gương, tôi bỗng khám phá ra mình thay đổi rất nhiều, nhưng không xác định được mình thay đổi như thế nào.

Giấc ngủ đêm qua đầy mộng mị, tôi không nhớ rõ mình nằm mơ những gì, chỉ mơ hồ cảm thấy lòng mình không yên ổn.

Sáng nay tôi quan sát lại tấm gương thì thấy nét gạch xéo trên gương đã biến mất. Nhưng tôi có cảm tưởng gương đã mờ đi như bị một làn hơi nước mỏng phủ lên. Tôi đưa ngón tay giữa lên xoa mặt gương thì thấy vẫn khô không dính chút hơi nước nào.



3.

Ngày ... tháng ... năm ...

Giám đốc lại bảo tôi đuổi việc ông K (lại viết tắt). Ông K là phó giám đốc ở sở, quyền uy gấp mấy lần tôi. Nhìn ánh mắt của giám đốc, tôi biết mình không thể nào từ chối trách nhiệm. Tôi soạn tờ giấy giống như tờ giấy đã đưa cho A, và hồi hộp tiến lại phòng riêng của ông K.

Phản ứng của ông K không nhẹ nhàng như của A. Ông đọc xong, bật mấy tiếng chửi thề rồi tát vào mặt tôi một cái nên thân. Người tôi bật về phía sau, tôi không nhớ rõ chuyện gì xảy ra sau đó, chỉ cảm thấy vô cùng tức giận, mặc dù tôi đủ trấn tĩnh để trở về bàn làm việc.

Chiều hôm ấy lúc gần giờ tan sở, giám đốc gọi tôi vào phòng. Ông tự tay mở cửa phòng cho tôi, vỗ vỗ vai tôi rồi khen tôi làm việc giỏi.

- Cậu lần tới cứ nói thẳng lệnh tôi ra, đừng viết lên giấy như thế nữa. Chúng giữ lại tấm giấy đó thì lại lôi thôi phiền phức.

Ông cười cười đưa tôi xem tờ giấy tôi viết cho phó giám đôc K rồi xé nó đi. Ông nói tiếp:

- Cậu làm việc giỏi lắm, không phải sợ chúng nó đâu. Cứ nghe lời tôi, cậu sẽ khá. Tin tôi đi.

Ông mở ngăn kéo, lấy ra một chai rượu đưa cho tôi.

- Cầm về nhà mà uống đi. Trông cậu mệt mỏi rồi đấy.

Quả thật lúc ấy tôi đang cảm thấy mệt mỏi. Cơn tức giận buổi chiều làm tôi mất bình tĩnh. Đầu óc tôi nổi lên những ý tưởng hung bạo cả đời tôi chưa bao giờ có. Tức giận làm tôi rã rượi cả người. Tôi cầm chai rượu, lí nhí cám ơn giám đốc, về bàn thu xếp đồ đạc vào cặp rồi bỏ ra về. Lần đầu tiên trong cuộc đời làm việc, tôi bỏ dở những công việc chưa hoàn tất trong ngày.

Cái thằng K khốn nạn, rồi đây nó sẽ biết tay tôi.

Cái thằng K khốn nạn, rồi đây nó sẽ biết tay tôi.



4.

Ngày … tháng … năm ...

Tôi hiện đang rất xao xuyến. Rất hoang mang. Tôi không còn biết, không còn nhớ tôi là ai nữa.

Tấm gương của tôi càng ngày càng mờ đi, chắc nước sơn ở mặt sau có vấn đề. Tôi cần phải nhờ thợ sửa cho tấm gương gia truyền của tôi sáng lại.

Nhưng cái xao xuyến, hoang mang của tôi không phải từ chuyện đó. Những chuyện dồn dập xảy ra gần đây làm tôi mất thăng bằng. Tôi cảm thấy tức giận mà không hiểu vì lẽ gì. Tôi cũng cảm thấy rất sợ hãi.

Chiều hôm qua trên đường về tôi lại nghe tiếng chân người chống gậy đi phía sau. Tôi quay lại thì cũng vẫn chẳng thấy bóng người nào. Tiếng chân theo tôi một quãng khá xa rồi mới dứt.

Tôi có đang bị mất trí không?



5.

Ngày … tháng … năm …

Bây giờ ngày nào tôi cũng nghe thấy tiếng lộp cộp sau lưng tôi trên đường về nhà mỗi tối. Chắc chắn là có người theo dõi tôi, nhưng tôi không thấy được người ta. Tôi không thèm quay lưng nhìn về phía sau nữa. Tôi sẽ không sợ hãi nữa.

Trời ơi, sao lòng tôi cứ bồn chồn mãi thế này?



6.

Ngày … tháng … năm …

Cái răng cửa của tôi bị lung lay. Từ ngày thằng K tát vào mặt tôi. Thằng K sẽ chết với tôi nếu tôi bị mất cái răng cửa.

Cái thằng K khốn nạn, mày sẽ chết với tao!

Cái thằng K khốn nạn, mày sẽ chết với tao!




7.

Ngày … tháng … năm …

Người thợ sửa gương báo cho tôi biết tấm gương gia truyền của tôi bị hỏng. Không sửa được.

- Những cái gương cổ như cái gương của ông đang bị hỏng ở khắp thành phố. Không ai hiểu rõ nguyên nhân. Tôi nghĩ là có chất ẩm lạ trong không khí hôm nay mà ngày xưa không có. Gương cổ không quen với chất ẩm này nên bị mờ đi. Đã đến lúc phải vứt những tấm gương này đi rồi, ông ạ.

Tôi phải vứt cái tấm gương gia truyền do ông cố tôi để lại? Tôi phải vứt tấm gương của tôi đi? Trời ơi, tôi phải vứt nó đi hay sao?



8.

Ngày … tháng … năm …

Tôi được nghỉ phép một tuần. Hôm qua tôi vào thư viện để tìm hiểu về công trường L và về pho tượng người đàn ông cụt chân.

Đây là những bản tin tôi tìm thấy trên vài tờ báo cũ (cũ lắm) còn lưu trữ ở thư viện.

Bản tin thứ nhất:
Ngày 17 tháng 10 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Thanh Niên đã trao huy chương Sao Bạc cho ba cựu đoàn viên của Đoàn Thiếu Niên Tình Nguyện số 3 trong thời kỳ đấu tranh cách mạng. Ba chiến hữu này đã từng là Đoàn viên số 6, số 7 và số 18 của Đoàn Thiếu Niên Tình Nguyện số 3.

Được biết là Đoàn Thiếu Niên Tình Nguyện số 3 trước kia gồm 38 đoàn viên, nhưng 35 đoàn viên đã hi sinh khi tình nguyện băng qua một bãi mìn trước đồn địch để mở đường cho cuộc tiến quân của sư đoàn 40. Duy có Đoàn viên số 6, số 7 và số 18 còn sống sót mặc dù bị thương nặng.

Đoàn viên số 6 bị mất một chân. Từ ngày mất chân, anh được các chiến hữu đặt biệt danh là Sáu L. . . .


(Không hiểu vì lí do gì, người thuật chuyện không cho tôi biết tên của những người trong chuyện.)

Bản tin thứ 2:
Tòa án quân sự vừa lên án tử hình 108 tên phản quốc đã âm mưu phá hoại cuộc cách mạng của nhân dân trong tiến trình thành lập nền cộng hòa trên đất nước ta. Tòa đã giao cho chiến hữu Sáu L nhiệm vụ hành hình các tội phạm phản quốc. Chiến hữu Sáu L đã từng được nhà nước trao huy chương Sao Bạc để tuyên dương tinh thần hi sinh cho cách mạng. Được biết chiến hữu Sáu L đã cho dựng một bộ máy chém tại khu đất trống ở nghĩa địa cũ trong thành phố . . .

Bản tin thứ 3:
Sáu L, nguyên Trưởng phòng An Ninh Quân Đội, vừa bị Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng cách chức. Sáu L trước kia là một đao phủ thủ giết người không gớm tay, đã từng ra lệnh hành quyết hơn 300 nạn nhân trong chiến dịch Duyệt Công Luận Tội do Hội đồng Cách Mạng Nhân Dân khởi xướng năm năm về trước. Được biết tòa án quân sự chỉ tuyên án tử hình 108 tội phạm, nhưng Sáu L đã tự tiện ra lệnh hành quyết hơn 300 người. Vì Sáu L trước kia đã có công với cách mạng, Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng đã khoan hồng, không chuyển hồ sơ Sáu L qua tòa án quân sự . . .

Thì ra người đàn ông kia đã từng là một anh hùng cách mạng. Một thiếu niên đã dám hi sinh tính mạng để giải tỏa cả một bãi mìn. Dù ông có giết hơn 300 người như báo chí tường thuật, bọn người đó không ít thì nhiều đã có ý định phản bội cách mạng. Tôi thực tâm ngưỡng mộ ông ta.

Cái răng cửa của tôi đã bị gãy. Sáng nhìn vào gương, tôi chỉ thấy một khuôn mặt mất răng, dị hợm. Cái thằng K, mày bây giờ ở đâu?

Tấm gương gia truyền của tôi càng ngày càng mờ đi, không có cách gì sửa được.



9.

Đù mẹ mày K, mày đã chết chưa, mày đã thấy thế nào là bị người khác đánh chưa, mày đừng tưởng mày ăn hiếp được ai thì cứ ăn hiếp, tao đã ném đá cho mày vỡ đầu đấy con ạ, tao đã trả được cái thù mất răng, tổ cha mày, đù mẹ mày, ôm đầu máu có sướng không con, bố sẵn sàng gãy mấy cái răng nữa, bố hiền mày cứ tưởng bố mày sợ, bố mày không sợ đâu, bố mày ném mày vỡ đầu là còn nhẹ, bố mày còn chưa lột xác mày là may đấy con ạ.

Mày đừng tưởng, bố mày hàng ngày đồng hành với người hùng cách mạng đấy, bố mày quen với sát thủ nổi tiếng đấy, bố mày chẳng sợ ai cả, bố mày nếu có dịp dùng chân đạp nổ mìn bố mày cũng sẵn sàng làm, mày có dám vậy không, thằng mặt chó, bố mày sẽ chém đầu lũ mất dạy như chúng mày, à còn cả thằng giám đốc nữa, bọn mày toàn một lũ chó đẻ.

Bọn mày toàn một lũ chó đẻ. Bọn mày toàn một lũ chó đẻ.



10.

Hôm nay ngày mấy nhỉ? Tôi không nhớ. Cũng chả sao. Thời gian không là chuyện cần phải nhớ. Tôi vẫn đi làm. Đồng nghiệp của tôi thân mật với tôi hơn thì phải. Tôi trò chuyện thường xuyên với họ trong sở.

Xếp tôi tuyển vợ thằng C vào làm việc. Tôi ghét cái thằng C này, lúc nào nó cũng xum xoe với xếp. Mắt nó lúc nào cũng láo liên, miệng cười giả tạo. Thế nhưng con vợ nó trông được ra phết. Hình như xếp cũng thích vợ nó, cho ngồi luôn vào bàn thằng K dạo trước.

Tôi được xếp cho rượu hàng tuần. Uống cũng tạm được.



11.

Tiếng chân theo sau lưng tôi dạo này bắt đầu nhẹ đi. Và hình như quãng đường có tiếng chân càng ngày càng ngắn hơn. Có dạo tiếng chân kia đã theo tôi đến tận nhà. Ngày tôi ném đá vỡ đầu K, tiếng chân còn vang lên khi tôi đứng ngắm mình trước gương.

Tôi cảm thấy băn khoăn trong lòng. Tôi sợ sẽ không còn được nghe tiếng chân kia nữa.

Cái gương của tôi hình như hơi sáng ra, không còn mờ như mấy ngày trước. Tôi mừng quá.



12.

Tôi chợt có một ý nghĩ táo bạo. Biết đâu tiếng chân tôi nghe mỗi ngày trên đường về lại chính là tiếng chân của tôi. Ừ nhỉ, tại sao tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng chân của hai người? Tại sao, nếu tiếng chân kia không là tiếng chân của chính tôi?

Tôi cảm thấy rất thích thú. Tôi đã đưa ra được một giả thuyết rất hay, rất có lý.

Cái gương ở nhà vẫn bị mờ, mặc dù có sáng ra được chút it.



13.

Tôi là ai? Tại sao tôi lại mất tiếng chân tôi? Tại sao?

Đã hai ngày tôi không nghe thấy tiếng chân sau lưng nữa. Tôi đã quên thời gian. Tôi lại để mất tiếng chân. Âm thanh kia đã chứng minh sự hiện hữu của tôi. Cuộc sống cần phải có âm thanh. Không có tiếng chân, chung quanh tôi chỉ là một màn đêm yên lặng. Chắc tôi đang ngủ, đang mơ. Chứ nếu không, tại sao lại không nghe thấy tiếng chân? Tại sao lại chỉ có im lặng ở chung quanh?

Đã mấy ngày tôi không soi gương. Tôi cũng không còn tiếc nuối cái gương gia truyền kia nữa. Dù gì nó cũng đã hỏng, không chữa được.




14.

Tôi chắc phải ra đi. Không thể ở lại nơi đây được nữa. Tôi đã đánh mất tất cả.

Hôm qua về nhà, tôi chỉ nghe một bầu tĩnh lặng ngập tràn thành phố. Dù mấy hôm trước tôi không nghe thấy tiếng chân, tôi vẫn cảm thấy có người theo sau tôi. Hôm qua thì không thế. Hôm qua tôi biết rõ chỉ còn một mình tôi trong bóng đêm.

Lúc về soi gương, tôi cảm thấy an ủi vì tấm gương đã sáng hẳn ra. Nhưng hình như gương lại khác hẳn mọi ngày.

Và tôi chợt nhận ra điểm khác biệt đó. Gương vẫn treo ở chỗ cũ. Sáng hơn mọi ngày. Nhưng tôi soi gương mà không thấy hình mình trong đó.

Chỉ thấy trong gương là một căn phòng trống không người…

* * * * *

Người thuật chuyện bỗng dưng cắt ngang rồi vội vã ra về. Tôi nài nỉ anh ta ở lại kể tiếp nhưng không được. Anh ta bảo chữ viết ở phần cuối quyển nhật ký nguệch ngoạc không đọc được, vả lại cũng chỉ còn có khoảng hơn một trang mà thôi. Anh bảo sẽ cố tìm hiểu trang cuối rồi sẽ kể tiếp cho tôi nghe. Anh bảo cần về sớm vì trời đã bắt đầu tối.

Nghe giọng anh cuống quýt, tôi đoán anh sợ bóng tối.


Đỗ Quý Dân
San Jose, April 2012

Thursday, April 5, 2012

Bóng Lung Linh (Đường Khuynh Diệp Tập 5)

Trong cơn lạnh cắt da nứt môi của Prague, người đàn bà đầu quấn khăn đen mời tôi mua bánh đậu! Tiếng nài nỉ với giọng quê mùa có sức mạnh vô hình níu chân tôi lại. “Bác ơi! Mua bánh đậu về “nàm” quà!” Tôi nhìn xuống đôi mắt đen cầu khẩn của chị. Nơi chốn phồn hoa đô hội, dưới bóng của các cung điện Prague, khuôn mặt này, lời mời đó, của người đàn bà Bắc kỳ khốn khó ngồi co ro trước cửa chợ khiến tôi thấy nhoi nhói trong lòng.

Trong thoáng giây đó, những dấu chân xưa tôi đã ghi trên con đường Khuynh Diệp chợt hiện về. Dồn dập. Mấy năm qua tôi đã có diễm phúc được độc giả gần xa yêu cầu tiếp tục viết thêm về cuộc hành trình tìm sức sống của mình, tuy nhiên, máu viết vẫn đọng lại không về cho đến hôm nay, mặc dù hành trình vẫn tiếp diễn.

Tôi không có công việc gì ở Prague, chỉ đến để tìm thư giãn sau bốn ngày ngán ngẩm tham dự một cuộc hội thảo vô vị tại vương quốc Monaco. Prague đã đến với tôi từ lúc tôi mới lớn, nhưng chỉ qua những đứa con cưng đa tài của nàng, như Franz Kafka hay Antonín Dvořák. Tôi cũng đã từng hình dung vẻ đẹp của Prague qua những tác phẩm văn chương tôi được đọc, nhưng khi thật sự đặt chân đến phố cổ ở đây, tôi mới thấy sự giới hạn của văn chương cùng trí tưởng tượng của mình.

Người Việt ở trong nước ngày nay gọi Prague là Praha, theo lối phát âm ở Đông Âu. Prague (Praha) nguy nga và cổ kính, hiền hòa nhưng kiêu hãnh. Là thủ đô của Cộng hòa Czech, và trước kia của liên bang Czechoslovakia (mà ngày trước chúng ta gọi chung là Tiệp Khắc), Prague là nơi cuộc Cách Mạng Nhung (Velvet Revolution, theo cách gọi của người Czech) đã bùng lên vào năm 1989 để đánh đổ chế độ cộng sản đã đè lên đất nước này hơn 40 năm (cuộc cách mạng này còn được mệnh danh là Cách Mạng Hiền Hòa - Gentle Revolution, theo cách gọi của người Slovak). Prague ngày nay đứng thứ bảy trong danh sách các thành phố trên thế giới được du khách thăm viếng nhiều nhất. Bước chân vào khu phố cổ, khách du lịch không khỏi ngưỡng mộ các vòm đỉnh cầu kỳ của những lâu đài đã từng in bóng trên nền trời trung cổ, những cổng thành nặng nề như phải lôi theo hàng ngàn năm lịch sử, những nhà thờ uy nghiêm một thời vang bóng, những con đường đá mòn như cổ tích….Tất cả như vang lên tiếng hòa tấu nhạc thơ giao hưởng (symphonic poems) của Dvořák. Các tượng đá nằm trên cổng nhà thờ hoặc cổng thành từ thời Baroque vẫn sừng sững nét hiện hữu và sống động như luôn muốn nhắn nhủ khách qua đường đừng để thời gian xóa đi ngày tháng cũ.

Prague may mắn đã không bị hủy hoại qua hai thế chiến. Chỉ có một tòa nhà bị Mỹ pháo kích lầm trong thế chiến thứ II. Nhưng dù Prague không ghi lại nỗi buồn chiến tranh, nàng vẫn bị dằn vặt bởi đã trở thành công cụ cho chính sách tiêu diệt chủng tộc Do Thái của Đức Quốc Xã.

Đoàn quân xâm lăng của Đức đã để yên không hủy hoại Prague. Nhưng họ đã biến một khu vực nằm ngay trong lòng phố cổ thành một trại tập trung, giam hãm người Do Thái suốt cuộc chiến. Những kẻ bị giam ở đây không được phép bước ra thế giới bên ngoải. Ngày nay người ta gọi di tích của cơn ác mộng lịch sử kia là Jewish Quarter. Tôi đã bàng hoàng xúc động khi đến nghĩa địa ở đấy. Giữa lòng Phố Cổ nguy nga, giữa các thành quách đồ sộ, một nghĩa địa nằm trồi lên khỏi mặt đường khoảng chừng 2 mét. Sau khi tìm hiểu, tôi được biết là khu vực này không đủ đất để chôn người, nên mộ của những người chết phải xây chồng lên nhau. Dần dà nghĩa địa tăng chiều cao và cứ thế mà dày theo năm tháng. Dày như sức chịu đựng của cả một sắc tộc đã một lần là nạn nhân của một chính sách diệt chủng tàn bạo.

Ngày nay Prague đã tạm quên đi nỗi buồn Do Thái và vui như một người đàn bà đương độ hồi xuân. Tôi may mắn được chứng kiến Prague trang điểm để chuẩn bị đón Lễ Phục Sinh. Vào dịp lễ này, trang sức của nàng là những quả trứng gà to nhỏ sặc sỡ đủ màu, tràn ngập khắp các phố phường.

Trời hôm ấy mưa phùn, có lẫn đá nhỏ như kim đâm vào mặt khách đi đường. Nhưng bất chấp, người và người vẫn tràn ngập quảng trường Phố Cổ. Như cá hộp, họ tụ sát lại nhau trước Đồng hồ Thiên văn (Astronomical Clock) khổng lồ ở giữa quảng trường để chờ nghe chuông đổ báo đầu giờ. Cứ đúng mỗi cuối giờ, họ lại được chứng kiến một bộ xương người biểu tượng cho thần chết xuất hiện như để chuẩn bị kết thúc cuộc sống. Ngay sau đó, những vị thần khác cùng xuất hiện để can thiệp và gióng chuông để loan báo sự tiếp diễn của vạn vật. Rồi một hồi kèn hân hoan trỗi lên từ nóc lâu đài như chúc mừng cuộc sống. Và dĩ nhiên là đám đông phải vỗ tay tán thưởng. Tan cuộc, mọi người đổ vào các hàng quán gần đó để thưởng thức hương vị của đặc sản Czech, như thịt heo quay trên những lò than hồng và rượu vang nóng nghi ngút khói thơm mùi trái cây. Người ta ăn uống, cười nói với nhiều thứ tiếng khác nhau. Đúng là biểu hiện của một thế giới hòa bình và hạnh phúc. Tôi nghe lâng lâng một niềm vui, nhưng vẫn thấy thiếu sót vì không nghe thấy bên mình có âm thanh quen thuộc của ngôn ngữ Việt.

Rồi tình cờ tôi gặp được hai người Việt đứng mua hàng gần khách sạn. Tôi mừng quá liền hỏi thăm họ về cộng đồng Việt tại đây. Theo tôi được biết, không có thông tin chính xác nào về con số người Việt hiện đang sống tại Prague. Lý do dễ hiểu: rất nhiều người Việt hiện cư ngụ bất hợp pháp tại đây. Tùy theo bản thống kê bạn đọc, con số này có thể thay đổi từ 10.000 đến 100.000. Nhưng không hiểu họ ở đâu? Sao không thấy hương vị nước mắm ở trung tâm thành phố? Tôi hỏi và hai người đồng hương chỉ cho tôi đến khu sinh hoạt quen thuộc nhất của người Việt, một khu vực có tên gọi rất thú vị là Chợ Sapa! Và thế là tôi lên kế hoạch đi Sapa tìm phở.

Trời hôm sau vẫn tiếp tục mưa phùn, gió buốt. Nhưng đường đi đến Chợ Sapa lại làm tôi nóng ruột. Đi mãi đi hoài vẫn không đến nơi. Thì ra người Việt ở xa lắm, xa khu vực sang trọng sầm uất của Prague. Càng ra xa, nhà cửa càng bé lại, đường xá càng xấu đi. Dọc đường đi, những hàng cây ướt át đứng rũ lá, bất động.

“Ông có thường chở khách ra đây không?” Tôi buột miệng hỏi tài xế taxi người Czech. “Không, ít lắm. Mấy ai lại ra tận nơi đây”. Càng đi lại càng thấy đường dài. Đã mấy lần tôi hỏi để được nghe cùng một câu trả lời. “Ở bên kia kìa”. Nhưng đã mấy cái bên kia mà Chợ Sapa vẫn chưa thấy. Tôi hỏi thêm: “Thế ông có hay gặp người Việt không?”

“Vâng, tôi có gặp họ trong những trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi ra tòa, hình sự cũng như dân sự. Tài xế chúng tôi hay bị cảnh sát gài bẫy vì không tính tiền theo hộp số. Vì vậy, tôi hay bị ra hầu tòa và hay thấy họ ở đấy”.

“Vậy theo ông họ có hội nhập vào đời sống ở đây không? Họ có nói tiếng Czech không?” Anh tài xế cười to. “Tôi đã từng nghe họ cãi nhau bằng tiếng Czech. Nhưng khi ra tòa hay gặp cảnh sát thì họ lắc đầu lia lịa, bảo rằng không hiểu gì hết”.

Xe taxi chạy chậm lại.

“Bên kia là xưởng giết gà ngày xưa. Chợ của người Việt đó”.

“Tại sao lại là xưởng giết gà? Tôi không hiểu".

“Thì ngày xưa nó là xưởng giết gà để cung cấp cho thành phố. Sau này bị bỏ hoang và người Việt đến đó lập chợ“. Tôi nhìn theo tay chỉ của người tài xế thì thấy một vùng trời tái xám đè lên một khu phố kết hợp bởi những gian hàng lụp xụp thấp lè tè. Anh ta thả tôi trước một cái cổng đơn sơ có biển đề chữ Sapa. Tôi bước xuống nhìn xung quanh, chỉ thấy cảnh tượng tiêu điều không một bóng người. Tôi bỗng chợt thấy lo cho đường về.

“Vậy rồi làm cách nào để tôi quay lại thành phố?”

“Ở đây không có dịch vụ taxi đâu. Đây là số điện thoại của tôi, cô gọi đi rồi tôi sẽ đến đón cô”. Nói xong anh lui xe đi, để lại tôi đứng trước một khu hoang vắng như chợ ma. Không một bóng người, chỉ có gió buốt lạnh thấu xương. Tôi chụp hình cổng chợ rồi mạnh dạn tiến vào.

Bước vào khu chợ lồng, tôi giáp mặt mấy cô gái trẻ. Tôi vui mừng hỏi mua hàng bằng tiếng Việt, với dáng vẻ tự hào. Nhưng những cô gái kia lại trả lời cộc lốc, thêm vào đó giọng của các cô có phần khó nghe nên tôi mất hứng. Tôi ghé sang hàng khác, rồi hàng khác nữa. Chẳng gặp được nụ cười hay lời chào hỏi nào quen thuộc. Người trong chợ dửng dưng nhìn tôi, và tôi nhìn lại họ. Trong im lặng. Luồng gió thổi từ ngoài vào bắt tôi phải lấy khăn che mặt. Tại sao không có người mua mà chỉ toàn người bán…và tôi? Tôi nhủ thầm. Sau một vài vòng vô vị, tôi hỏi tìm tiệm ăn ngon gần chợ. Một người chỉ tôi đến gian hàng bún chả ở phía ngoài chợ lồng. Tôi bước vội theo mùi thịt nướng. Trong thoáng chốc tôi đã đến một hẻm nhỏ và trông thấy một người đàn ông đứng bên tường nướng thịt. Mùi thịt trên than hồng làm tôi muốn chết vì thèm. Tôi vội dùng iphone của mình để chụp lấy cảnh thịt xì xèo trên than đỏ.

Tôi khen anh nướng giỏi. Anh chàng bèn quay lại cười hề hề nhe hàm răng vàng vì thuốc lá. Bỗng đâu đó có người hét lên bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu. Tôi quay ra phía cửa tiệm và thấy một người đàn bà Việt ốm choắt đang to tiếng một cách giận dữ.

“Chị la lối gì vậy, tôi không hiểu”. Tôi lẩm bẩm.

“Không được chụp hình nhà tôi. Ở đây không cho chụp hình!” Tiếng nói đanh đá phá vỡ bầu trời buồn thảm của chợ Sapa. Tôi ngẩn người thất vọng, không muốn đáp lời mà chỉ quay chân bước đi, mặc dầu không hiểu được nguyên do của sự phẫn nộ kia. Thế là toi mất bữa bún chả nướng của tôi. Trong giây phút lê gót nặng nề trên các vũng nước, lòng bối rối đến khó hiểu, tôi nghe thấy tiếng của chị bán bánh đậu. Lời rao hàng của chị làm tôi bình tĩnh lại.

Tuy mặt người đàn bà nhuốm đầy dấu vết trầm luân, chị vẫn tươi cười niềm nở. Tôi mừng như thấy mẹ về chợ. Tôi thuật lại câu chuyện vừa xảy ra tại tiệm bún chả và hỏi chị tại sao người ta lại phản ứng mạnh mẽ thế. Chị trả lời rất nghiêm túc: “Bác mua bánh cho em, em rất mừng, nhưng em cũng không muốn Bác chụp hình em đâu. Đời sống ở đây phức tạp khó khăn lắm Bác ạ. Có chuyện gì chúng em sẽ bị bắt và mất hết”. Tôi không hiểu rõ lời giải thích của chị và cố tình gợi thêm chuyện để lấy thêm chi tiết. Nhưng chị chỉ nói chung chung và vẫn không cho tôi thêm một thông tin chính xác nào. Chị ngồi đó vẫn niềm nở trong cái lạnh nghiệt ngã, trước một ngôi nhà bày biện như hàng chợ. Phía trong nhà, ở giữa là các loại rau được trưng bày trong thùng đặt dưới đất, bên cạnh là các thùng đựng ốc ngón tay và tôm đông lạnh. Hai bên tường là các món đồ sứ lòe loẹt rẻ tiền của Trung Quốc. Tôi hỏi người đàn ông đứng gần đó đang nhìn tôi soi mói.

“Thưa anh, ở đây ngoài chợ này, còn chợ Việt nào khác không ạ?”

“Không”. Lại một câu trả lời lạnh lẽo. “Cô từ đâu đến?”

“Dạ, từ Mỹ ạ”.

“Mỹ thì sướng quá rồi”. Người đàn ông nói với giọng chua chát rồi nhìn đi chỗ khác. Một lần nữa tôi bước đi trong bối rối.

Tôi lại tiếp tục tìm nơi ăn trưa. Tôi tìm được một nhà hàng khang trang mang tên Hoàng Thành. Ngoài bãi đậu xe có một bảng hiệu ghi hai chữ “Little Hanoi”. Tôi chợt hiểu. Cư dân ở đây đều đến từ miền Bắc. Nhưng theo cách phát âm của họ, tôi đoán họ không phải là người Hà Nội.

Nhà hàng Hoàng Thành được trang trí một cách nhã nhặn và thanh lịch, trái ngược với phong cách của thực khách đang có mặt tại đó. Họ nói chuyện to tiếng, giọng của người miền Bắc. Mùi hương vị đồ ăn buộc tôi phải chú ý đến thực đơn. Sau bao ngày ăn các món ăn Pháp và xúc xích của Prague, được ăn các món ăn Việt là cả môt niềm hạnh phúc. No bụng đói mắt, tôi gọi phở, nem cua bể và lươn xào xả ớt ăn bánh đa. Tuyệt vời! Phở đây không phải phở miền Nam nhưng nhờ bánh phở tươi, trong cơn lạnh bát phở trở thành bát súp đầy an ủi. Lươn cũng tươi, nem cua bể cũng tạm được, chỉ có bát nước mắm là hơi nửa mùa, tội nghiệp. Tôi phải xin nước mắm sống và chanh ớt để tự pha lấy.

Tôi vừa ăn vừa cố tình kéo dài thời gian để trò chuyện với cô hầu bàn. Cô xác định là tất cả những người sống ở đây đều đến từ Hải Phòng, Hải Dương và các vùng thôn quê ngoài Bắc. Thời gian đầu họ đến để du học nhưng dạo sau này đa số thuộc thành phần xuất khẩu lao động.

Vì đông khách, tôi không tiện hỏi vào chi tiết. Tôi rời nhà hàng mà trong đầu vẫn còn bao nhiêu câu hỏi không được giải đáp. Khi tôi chuẩn bị gọi điện thoại cho anh tài taxi hồi sáng thì bỗng thấy một tờ giấy quảng cáo dịch vụ taxi dán trên tường. Không suy nghĩ, tôi gọi ngay số điện thoại ghi trên tờ quảng cáo. Sau ba mươi phút đợi chờ, xe đến. Tài xế là một thanh niên Việt, đầu trọc, da trắng, đôi mắt sáng cười rạng rỡ. “Thưa Chị về đâu ạ?” Thế là tôi và anh chàng taxi người Việt tên Cương bắt đầu một cuộc hành trình thật ấn tượng.

Những vòng quanh co của đường phố phía trước và ánh đèn vàng bên lề từ từ hiện ra song song với những hình ảnh đời sống khắc khổ của cộng đồng người Việt tại chợ Sapa. Cương kể dồn dập không dừng tiếng, như đã từ lâu anh không có dịp nói về đề tài này.

Họ không có tiếng nói ở đây, Chị ạ. Có những người qua đây hơn chục năm mà đến giờ vẫn chưa đặt chân ra khỏi chợ Sapa. Họ luôn sống trong sợ hãi. Buôn bán ngày càng khó khăn, không thành công, họ tranh giành nghi kỵ lẫn nhau. Rất nhiều người đã bán nhà, cầm đất, hy sinh tất cả để qua đây làm ăn, để rồi bị trắng tay. Không đủ mặt mũi để trở lại quê nhà, họ nán lại đây chờ thời. Giấy tạm trú rồi bị hết hạn và từ đấy họ trở thành những người cư trú bất hợp pháp, sống vất vưởng bên lề xã hội và ngày ngày cầu mong sao không bị cảnh sát bắt.

Giọng Cương nghe đều đều như lời tự nhủ. Tôi biết là Cương đã đi lạc, vì nhận thấy xe đã vòng mấy lần trên cùng một con đường. Nhưng tôi không màng vì mải nghe chuyện và vì chúng tôi đã thỏa thuận giá cả từ trước.

“Họ sống tập trung ở đây là vì bị người Czech kỳ thị phải không em?”

Kỳ thị thì ở đâu chẳng có Chị ạ -- người Việt mình kỳ thị lẫn nhau còn nặng hơn thế nữa. Lý do chính là tinh thần hội nhập của họ quá kém. Họ hoàn toàn không có ý thức và dự định hòa đồng. Ai đến đây cũng chỉ có mục đích làm giàu, mơ tưởng rằng chỉ sau một thời gian ngắn họ sẽ trở lại quê nhà. Nhưng trên thực tế mấy ai có thể dễ dàng ra đi khi cơ nghiệp chưa có. Rất nhiều người sống ở đây bao năm rồi mà vẫn không nói được một chữ Czech. Để mỗi khi đụng chuyện, họ phải chịu tốn kém chạy tiền mướn người thông dịch. Từ chuyện đưa con đi nhà thương đến chuyện ghi danh cho con đi học. Thế hệ này coi như là vứt đi rồi Chị ạ. Chỉ còn mong vào thế hệ con cháu.


“Vậy em có nói tiếng Czech không?”

“Vâng, em nói rành vì em đã sống ở đây trên hai mươi năm”.

“Sao em lại không giống như những người ở chợ Sapa, chỉ sống quanh khu chợ?”

Vì em xuất thân cực nghèo. Phải chịu nhục và tủi thân nhiều lắm rồi. Nên lúc qua được đây, em quyết tâm chọn nơi này làm quê hương và không quay về Việt Nam nữa. Em bây giờ đặt hết niềm tin vào các con em. Cuộc sống của em tốt và ổn thỏa. Còn cộng đồng nói chung thì rất phức tạp, Chị ạ. Có những nỗi đau rất khó tả. Thế giới của chợ Sapa có nhiều vấn đề, chẳng hạn như buôn lậu và bán thuốc phiện. Hiện tại chính quyền Czech rất khó chịu với cộng đồng người Việt và đổ thừa cho khu chợ Sapa là một trong những mầm mống của tệ nạn xã hội tại Praha.

Tôi buột miệng: “Chỉ vì một vài con sâu mà làm cho cả một cộng đồng bị liên lụy mang tiếng”.

Khó nói lắm, Chị ạ. Khi con người không còn lối thoát, họ phải làm tất cả để sống. Cách đây ba năm có một anh chàng Việt Nam sang đây, mang theo bao nhiêu tiển của từ bố mẹ để đi lập nghiệp. Nhưng không may bị thất bại, tiền bạc sạch trắng, hắn không đủ can đảm quay về và đã thắt cổ tự tử chết.

Ở đây, bao nhiêu trường hợp thất bại tương tự đã xảy ra, nhưng thay vì chọn cái chết, nhiều người chọn cách làm tiền phi pháp. Mình không thể phê phán họ khi mình không nằm trong hoàn cảnh của họ, Chị ạ.


Xe vẫn chạy, bầu trời dần dần khép lại, mưa rơi lất phất. Chúng tôi bỗng rơi vào bầu im lặng nặng nề. Sau không biết bao nhiêu hơi thở, tôi lên tiếng: “Người Việt mình thường làm nhà hàng giỏi, tại sao mình không vào ngay trong trung tâm thành phố để làm ăn? Hiện nay chưa phải là mùa hè mà du khách đã đông như vậy, chắc hẳn phải có nhiều cơ hội buôn bán lắm chứ, phải không Em?”

Cương cười nhẹ, tiếng cười thật nhẫn nại.

Không đơn giản như vậy đâu, Chị ạ. Thứ nhất, tiền mặt bằng quá đắt. Thứ hai, mặc dù luật pháp không cấm, nhưng các gian hàng của người thiểu số rất bị giới hạn. Người Czech muốn bảo tồn di tích lịch sử của Praha và không muốn các sắc tộc khác chen chân vào nội thành. Nếu Chị để ý thì Chị sẽ không thấy có hai gian hàng nào của người thiểu số đứng cạnh nhau. Đây là luật bất thành văn, và ai cũng hiểu điều này. Trong trung tâm, lâu lâu Chị mới thấy có một tiệm ăn Trung quốc và một vài tiệm đấm bóp của người Thái. Chỉ có thế thôi. Sẽ không bao giờ Chị thấy có ‘phố Tàu’ hay ‘phố Nhật’ như ở các nước khác.


Tôi cố gắng nhớ lại và thấy nhận xét của Cương thật đúng.

“Chị vẫn không hiểu là sau gần ba mươi năm mà không có người Việt nào thành công rồi dọn vào trung tâm để sống?"

Làm sao mà mua nổi, Chị ạ. Cũng có một số người mua nhà ở trung tâm đấy. Nhưng mỉa mai thay, họ không phải là những người định cư ở đây, mà lại là người ở Việt Nam đem tiền qua đầu tư. Mỗi tòa nhà giá hàng triệu đô la Mỹ.

Tôi bắt gặp mình thở dài.

“Hiện giờ em đang sống ở đâu?"

“Ở gần chợ Sapa, Chị ạ”.

Xe đã đến Phố Cổ mà tôi lại ước xe còn đi lạc. Trời rét ướt nhưng người đi Phố Cổ vẫn tấp nập. Cơn lạnh đẩy họ lại gần nhau hơn và đưa tiếng hát của họ bay cao hơn. Các quả trứng rực rỡ treo trên cây vẫn tung tăng trước gió. Trong khung cảnh tưng bừng như ngày hội, tôi bỗng nhiên cảm thấy lạc lõng vô cùng. Và chợt thấy lòng mình nặng trĩu. Sau một vài phút ngập ngừng, tôi giã từ Cương. Tôi chỉ mới gặp Cương hơn bốn mươi phút đồng hồ trước đây, tôi và Cương không có một giọng nói cùng miền và không cùng nơi xuất xứ, thế nhưng khi Cương kể chuyện, tôi cảm thấy như chúng tôi là chị em ruột thịt đã từ lâu không gặp.

Cương đi rồi, tôi nhập vào đám đông, muốn dựa vào họ để đón nhận và chia sẻ hạnh phúc của Prague, nhưng sao vẫn cảm thấy rất ư cô độc. Tại sao những người ở chợ Sapa lại không có được những giây phút Phục Sinh như ở nơi này?

Trong cơn lạnh cắt da nứt môi của Prague, tôi chợt nhớ đến nghĩa địa chồng chất của người Do Thái và hình dung ra cảnh họ sống chen chúc trong trại tập trung nơi Phố Cổ. Tôi liên tưởng đến hình ảnh chị bán bánh đậu đầu quấn khăn đen, chàng thanh niên bất hạnh đã thắt cổ tự tử, và thoáng thấy đâu đây bầu trời xám nhỏ bé của người Việt tại chợ Sapa.

Tôi lại tiếp tục đi trong bối rối…

Jenny Do

Thursday, January 26, 2012

Invictus - Unconquered

Đây là bài thơ đã giúp Nelson Mandela nuôi vững được tinh thần đấu tranh cho dân tộc. Tôi đã dịch ra để tặng một vài người bạn. Dịch không chỉnh lắm. Người đọc miễn thứ.

Invictus

Out of the night that covers me,
Black as the pit from pole to pole,
I thank whatever gods may be
For my unconquerable soul.

In the fell clutch of circumstance
I have not winced nor cried aloud.
Under the bludgeonings of chance
My head is bloody, but unbowed.

Beyond this place of wrath and tears
Looms but the Horror of the shade,
And yet the menace of the years
Finds and shall find me unafraid.

It matters not how strait the gate,
How charged with punishments the scroll,
I am the master of my fate:
I am the captain of my soul.

William Ernest Henley
(1849-1903)


Bất khả khắc phục

Tôi thoát khỏi màn đêm đang phủ kín
Đen như hố sâu suốt hai cực địa cầu
Đấng thần linh nào đây? Cảm ơn đã
Không để ai khắc phục được hồn tôi.

Khi bị rơi vào vuốt nanh định mệnh
Tôi chẳng nhíu mày cũng chẳng kêu than
Tôi hứng chịu đòn dùi cui vận hạn
Đầu máu tuôn nhưng chẳng chịu quy hàng.

Vượt chốn nơi đây của hờn căm nước mắt
Là đối đầu Kinh Dị của bóng âm
Nhưng nỗi đe dọa bao năm dai dẳng
Sẽ chẳng làm tôi run sợ một lần.

Mặc cho cửa vào thiên đường chật hẹp
Mặc cáo trạng ghi đầy rẫy cực hình
Tôi vẫn là chủ nhân của vận mệnh
Tôi vẫn là thống lãnh của linh hồn.

William Ernest Henley
DQD dịch

Wednesday, November 9, 2011

Hồi Sinh

Tôi chết đi hôm qua
Chưa kịp rửa sạch lỗi lầm nhân loại
Em tiếp cho tôi hơi thở
Và tôi lại hồi sinh
Để tìm lại nơi bắt đầu
Của linh hồn
Của nghị lực
Tôi đã bỏ quên
Khi tự đóng đinh mình lên thánh giá

Tôi hồi sinh vì em vẫn sống
Vì em là một phần của thể xác
Của linh hồn
Tôi
Em bất diệt nên tôi bất tử
Em truyền tôi hơi thở
Lúc tôi hấp hối trên đỉnh hoang mang

Tôi sẽ mọc cánh khi đôi chân tàn phế
Và đầu thai vào kiếp mới
Khi đôi tay bị trói quặt bởi ý tưởng buông xuôi
Tôi có em nên có cả bầu trời
Nên không còn vướng những mơ hồ ảo tưởng

Nhớ thuở cùng Shiva đập tan vũ trụ
Giờ đầu thai vào một kiếp Brahma
Em hòa vào tôi như hòa hợp của âm dương
Chúng ta sẽ cùng tạo ra thái cực
Nên giờ đây hồi sinh
Tôi sẽ bắt đầu một hành trình mới
Lấy tình em làm phương hướng
Làm kim chỉ nam của cuộc sống ngày mai
Em hãy cứ chờ
Vì tôi sẽ đến . . .

Drunken Poet

Monday, November 7, 2011

Hấp Hối

Em viết xong bài hát cuộc đời
Hát cho anh nghe buổi chiều anh hấp hối
Nhưng anh không chết vì vẫn còn lạc lối
Phải chăng anh đã dập tắt mặt trời?

Những dấu chân xưa
Đã không còn trên cồn cát
Như chưa từng có mặt
Nhưng biển cát vẫn mượt mà bên dòng thời gian trầm tĩnh
Liệu anh có chết đi
Như chưa từng hiện hữu
Liệu anh có ngủ yên
Hay chỉ kéo dài cơn hấp hối vào vô tận . . .

Em hát để nhắc cho anh
Những bài thơ anh viết chưa trọn vẹn
Để anh không ngủ quên
Và nằm mơ những giấc mộng mong manh
Những giấc mộng tầm thường
Làm rữa nát cái xác thừa của một thân phận không ý nghĩa
Em biết anh không muốn hồn anh rữa nát
Nên em phải nhắc anh
Và hát bài hát cuộc đời
Buổi chiều nay khi anh đang hấp hối. . .

Drunken Poet

Monday, October 17, 2011

Vô Thức

Đêm
Đen như cõi vô tri
Trắng như ngàn năm chưa đi ngủ
Mắt không còn sáng như đèn pha
Mà sao tai vẫn dập dồn như xe cứu hỏa
Tiếng than mênh mông
Như vùng cao nguyên ở một khung trời cũ như tiền sử
Nhưng của một nỗi đau đang chảy ra dòng sông trước mặt
Vai em nhỏ thó như ký ức chẳng chịu phai mờ
Nỗi nhớ giẫy giụa như con cá trê
Nhớt nhầy trên bàn thớt
Anh với em nhìn tuyết rơi phủ lên miền xúc cảm
Hỏa diệm sơn nổ bùng sau cơn địa chấn
Vừa bị sóng thần nuốt trọn đêm qua
Để bây giờ ta gần gũi …

Ngày
Chậm như những hành trình vạch sẵn
Nhanh như khoảnh khắc thiếu suy tư
Chiếc xe bị vé phạt vì đậu quá giờ
Anh vẫn bị phạt vì đôi chân không dừng lại
Người cách xa khi mặt trời ló dạng
Ánh sáng xâm nhập vào phòng tuyến nội tâm
Nên người cần một khí trời ô nhiễm
Để khỏi bận lòng khi chờ đón ngày mai
Con ong không dám ngủ trong nụ hoa đầy mật
Con giun không chui đầu ra khỏi đất
Em như một liều thuốc
Cho những linh hồn thiếu chất đam mê…

Ngủ
Nhưng không ngủ vì tim còn đập mạnh
Để hòa điệu cùng hơi thở
Chính xác không một lỗi lầm
Cơn mê làm mất bản chất của lặng yên
Như viên nước đá giữa sa mạc làm nhòe đi vẻ đẹp của cát
Chỉ để cứu rỗi một cơn khát tầm thường
Như loài người
Như anh và em
Như số phận những con chim cả đời bay để tìm miền nắng ấm
Như những lời phân ưu
Đăng trên tờ nhật trình
Phân vân nhưng thẳng cánh
Về vùng của những thói quen dùng để trang điểm cuộc đời
Anh đã xé áo trang điểm của em
Để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tĩnh lặng
Như hứa hẹn của một cơn giông sắp tới
Trước giờ hẹn cùng giấc ngủ.

Đỗ Quý Dân

Monday, September 5, 2011

Văn Hóa Nhậu, Văn Hóa Giả

“Anh ơi, tối nay rảnh không? Em mời anh đi nhậu.”
“Có chuyện vui hả? Kể anh nghe với.”
“Em vừa bị mất việc anh ạ. Đi nhậu cho đỡ buồn.”

Giữa lúc chén thù chén tạc, anh chàng vừa thất nghiệp tâm sự là đã quá chán công việc. Lương bổng không bao nhiêu mà việc làm ngập đầu. Bỏ việc thì vợ cự là lười biếng, nay bị cho nghỉ việc thì có quyền nghỉ ngơi mà không bị mặc cảm tội lỗi. Đó là lý do để nhậu.

Hai hôm trước một người bạn tôi được một đứa “đệ tử” mời đi nhậu vì mới mua được một chiếc điện thoại di động thật “chiến”. Tôi được rủ đi theo vì lỡ bị mang tiếng là sành rượu! Cả buổi nhậu chẳng ai nhắc nhở gì đến cái điện thoại chiến kia cả. Không dẹp được tính tò mò, tôi yêu cầu chủ nhân cho xem chiếc điện thoại di động mới của chàng ta.

“Em cho con bé bồ nhí của em rồi anh ạ.”

Thật là quái lạ. Lúc đó tôi chịu, không sao hiểu nổi anh chàng mời nhậu. Bảo là muốn khoe đồ chơi mà lại đem đồ chơi đi cho người khác thì không biết là khoe cái gì? Tôi thật sự hoang mang.

Nhưng bây giờ tôi bắt đầu hiểu.

Đây chẳng qua là một vấn đề văn hóa. Cái văn hóa mới của nước Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến.

Cái nền luân lý Khổng Mạnh, các tư tưởng văn hóa hội nhập từ các nước Âu Mỹ hiện giờ đã nhường bước cho một trào lưu văn hóa mới: văn hóa bàn nhậu.

Ngày xưa nếu có người phê bình An Nam ta có cái tật là gì cũng cười, thì hôm nay ta có thể kết luận rằng Việt Nam ta giờ có cái tập quán mới là có chuyện gì cũng nhậu. Ta cứ đi từ Sàigòn ra Hà Nội, từ Huế vào Đà Nẵng, đâu đâu cũng sẽ thấy những quán nhậu, và lúc nào quán nhậu cũng đông kín người. Có những nơi khách có thể uống bia hoặc rượu cùng với các cô hầu bàn, để niềm vui nhậu nhẹt được pha trộn với một chút lả lơi, sàm sỡ cho đủ ý vị của nền văn hóa mới. Kiểu nhậu này không phải chỉ có ở riêng Việt Nam, mà còn rất thịnh hành ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Mã Lai, Thái Lan, v.v. Nhưng có lẽ không đâu có nhiều lý do để nhậu như ở Việt Nam. Kiếm được việc làm là đi nhậu ăn mừng, mất việc cũng đi nhậu vì “thoát nợ”. Mua chiếc điện thoại mới cũng cần nhậu để khoe, chắc khi mất chiếc điện thoại đó cũng sẽ nhậu vì có lý do mua điện thoại mới!

Nhậu nghiễm nhiên đã trở thành một nhu cầu của xã hội Việt Nam hôm nay.

Anh T. , chủ một khu du lịch hoành tráng trên vùng cao nguyên, kể cho tôi nghe là anh phải mướn một phó giám đốc và ba cô phụ tá để đỡ cho anh về việc “tiếp khách” hàng tuần. Khách gồm đủ mọi thành phần: quan chức nhà nước, thương gia hạng xộp, tài tử nghệ sĩ, v.v. Khách nào cũng phải có bàn nhậu. Không đủ sức để đương nổi các buổi tiệc nhậu liên tục, anh cử “phó giám đốc” và ba cô phụ tá đi thay thế. Riết rồi bốn người này trở thành “chuyên viên nhậu” của công ty: chỉ đi nhậu chứ không làm gì khác! Có vẻ nhàn nhưng chẳng nhàn chút nào. Bận liên miên vì phải nhậu liên miên! Đó là chưa kể thận gan chắc rồi cũng sẽ có vấn đề. Chuyện nhỏ. Chuyện phát huy nền văn hóa mới, tức văn hóa nhậu, mới là chuyện chính. Việc của công ty có tiến hành tốt đẹp hay không cũng là trông vào các bữa nhậu đó. Lấy được các giấy phép nhà nước cũng cần phải hiểu văn hóa đó. Ký được hợp đồng với các đối tác kinh doanh cũng phải thương lượng trên diễn đàn văn hóa đó. Không hiểu được văn hóa nhậu là khó nói chuyện được với nhau. Coi thường chuyện nhậu là khinh bỉ văn hóa mới của người Việt Nam hôm nay!

Cái cách nhậu của người Việt hôm nay cũng khác thường. Đối với dân nhậu, thì văn hóa nhậu hôm nay tiến một bước rất xa. Cái tiến bộ là ở chỗ biết uống rượu Tây!

Ngày xưa dân nhậu có mấy chai 33 đã là cao cấp rồi. Thường thì chỉ có ba xi đế. Phải đám trưởng giả mới uống Cognac (Courvoisier, Martell, Hennessey, v.v), mà cũng chỉ uống đến cấp VSOP là cùng. Ngày nay, dân nhậu chỉ thích uống Martell Cordon Bleu, Hennessey hoặc Remy Martin XO, mỗi chai mua cả trăm đô chứ không phải chuyện chơi. Có điều là ở Việt Nam rượu bán ngoài tiệm có đến 90% là rượu giả mạo. Uống vào nhiều khi mồm mép sưng phồng lên, trông như cái phao câu vịt! Còn chóng mặt, nhức đầu, nôn mửa thì khỏi nói. Chuyện quá bình thường. Thế nhưng người ta cứ uống. Và bây giờ thì dân nhậu Việt Nam lại chuyển qua Whiskey (Scotch). McCallan, Chivas, và Johnny Walker là ba loại Scotch thông dụng nhất. Người ta cứ lựa loại đắt tiền mà uống. Chivas và McCallan thì phải từ 18 đến 25 năm, Johnny Walker (còn được dịch là Giô Ni đi bộ) phải ít nhất là Gold Label, hoặc nếu sang hơn là Blue Label thì mới đúng điệu. Rồi cũng toàn uống phải rượu giả, sản xuất tại Trung Quốc. Thế nhưng anh em ta vẫn bỏ tiền ra uống. Vì anh em ta chẳng phải uống để lấy ngon, mà để người khác biết là mình sang!
Có nghĩa là các bác chẳng biết thế nào là rượu ngon hoặc rượu dở. Các bác chỉ thấy rượu đắt tiền là gọi. Để gây ấn tượng với bạn bè, với gái. Các bác pha rượu với nhiều nước soda cho dễ uống, lại vừa uống vừa ăn các món ăn đặc sản nặng mùi mắm muối gia vị, mùi Cognac hoặc Scotch không thể nào lấn át nổi. Thế nhưng các bác vẫn biết được rượu ngon (dù là rượu giả). Thế mới đúng là sành điệu.

Nếu các bạn khó kiếm được một ông Tây uống Cognac hoặc một ông Mỹ uống Scotch lúc ăn bữa trưa hoặc bữa tối thì các bạn tìm ra đối tượng Việt Nam uống kiểu này rất nhiều. Đây là văn hóa mới của Việt Nam, Tây Mỹ khó mà so sánh nổi.

Cũng có nghĩa là văn hóa nhậu cũng giống như các nét văn hóa khác ở Việt Nam hôm nay. Đây là nét đáng yêu của những cái giả tạo mà mình không biết, hoặc biết nhưng vẫn chuộng vì tuy giả tạo nhưng rất ấn tượng! Ở một đất nước mà mọi thứ đều giả thì rượu khó mà thật được. Nhưng nếu không biết giá trị của cái thật, thì cái giả cũng chẳng có gì xấu!

Nói qua chuyện thật giả, ta còn nhớ ngày xưa các bà hay nấu các món giả cày, giả ếch. Ngày nay các cô gái làm việc ở các bar và vũ trường bán những nụ cười, những ngôn ngữ “giả nai”. Rồi sau đó sẽ tặng cho khách chơi những lời yêu thương giả dối.

Đồng hồ giả, quần áo giả, giày dép giả, người Việt hôm nay là những tấm biển quảng cáo di động cho đồ giả. Mắt mũi giả, ngực mông giả, ngay cả chỗ kín của phụ nữ giờ đây cũng có đồ giả. Ở một xã hội phong kiến có những gã đàn ông đi mua trinh để lấy hên nên có nhiều anh cũng mua phải trinh giả!

Đó là về phương diện vật thể. Về tinh thần, người Việt ngày nay cũng bắt đầu “sắm” học thức giả. Bằng cấp chính hiệu khó kiếm nên phải mua bằng cấp giả. Nếu cần bằng cấp thật thì nhiều đấng lãnh tụ ngày nay chắc sẽ tiếp tục bị mất mặt vì xưa kia chỉ nằm trong chiến khu, chẳng biết chữ nghĩa gì cả. Phải kiếm một cái bằng giả như bằng Phó tiến sĩ chẳng hạn. Như thế mới an tâm nắm giữ chức vụ chủ tịch, ủy viên, giám đốc, v.v. Có thế thì kẻ dưới mới phục chứ!

Trong môi trường văn hóa diệu kỳ của nước Việt, những cái giả đó giờ đã thành thật. Đã chấp nhận được cái giả thì không còn cần phải tỉnh táo. Mà nếu không cần tỉnh táo thì nên nhậu. Khi nhậu mọi chuyện đều thật cả. Thật trong tinh thần văn hóa Việt Nam, thật trong tinh thần văn hóa nhậu, thật trong tinh thần văn hóa giả.

Người viết tôi hình như đã bắt đầu thấm nhuần cái tinh thần văn hóa mới này vì dạo gần đây cứ phải đi từ bàn nhậu này đến bàn nhậu khác. Cái đó gọi là dấn thân để “nghiên cứu” vấn đề. Nói cho kêu hơn là hy sinh (giả) cho đại nghĩa (giả).

Sống giữa nền văn hóa mới này, mình biết hỏi ai để tìm ra sự thật đây?

DQD

Saturday, April 30, 2011

Mùng 1 Tháng 5

Mùng 1 tháng 5
Tháng tư thành huyền thoại
Một người ra đi
Một trăm người ở lại

Mùng 1 tháng 5
Tháng tư giờ trở lại
Cuộc đời của một người
Chia thành hai kiếp sống.

Mùng 1 tháng 5
Tháng tư giờ hai nghĩa
Nghĩa của kẻ chiến thắng:
Thống nhất và hòa bình
Nghĩa của kẻ ra đi:
Lưu vong và quốc hận.

Mùng 1 tháng 5
Tháng tư là phân liệt
Ba mươi mấy tháng tư
Chẳng xóa đi cách biệt.

Mùng 1 tháng 5
Tháng tư thành nghi vấn
Câu hỏi cho người đi:
Bao giờ thôi vướng bận ?
Câu hỏi cho người ở:
Bao giờ hết tham ô?
Câu hỏi cho người dân:
Bao giờ hết kiếp khổ?
Câu hỏi cho đất tổ:
Bao giờ? Đến bao giờ?

Wednesday, April 27, 2011

GHẸO NGƯỜI THÍCH THƠ LỤC BÁT

Cho em câu lục xinh xinh
Để anh câu bát chúng mình xứng đôi
Em gieo vần ở bờ môi
Nên lòng anh cứ bồi hồi ngất ngây

Cho em câu bát sáng mai
Để anh câu lục đêm nay vỗ về
Tội anh chẳng biết mô tê
Vì si, thơ để lạc đề triền miên

Cho em câu lục kề bên
Để anh câu bát gối lên tình mềm
Mai rồi lỡ phải xa em
Nhớ em anh cứ anh tìm trong thơ

Cho em câu bát mộng mơ
Để anh câu lục vẩn vơ sớm chiều
Ô hay, có phải tại . . . yêu?
Câu lục câu bát đủ xiêu lòng người !

Đỗ Quý Dân